26/03/2025

Câu chuyện Lỗ Ban học nghề

 Câu chuyện Lỗ Ban học nghề

Sông Thanh Thủy chảy vòng về phía Đông thành một vụng lớn. trong vụng có một dãy nhà đất gọi là Lỗ Gia Loan. Ở đây có một ông già họ Lỗ làm nghề thợ mộc. Ông đã năm mươi tám tuổi, đi học nghề, theo phường từ năm mười tám, tính ra đã làm nghề mộc bốn mươi năm ròng.
Ông thợ mộc già cần cù làm lụng suốt đời, dựng được hai dãy nhà đất, một dãy ở phía Nam, một dãy ở phía Bắc. Tính tình ông cũng hơi kỳ lạ, làm nghề mộc suốt đời mà chẳng nhận qua một học trò. Có ai đến nhận ông làm thầy, xin theo để học nghề, ông đều thoái thác nói rằng: “Đi theo tôi thì học được nghề nghiệp gì, anh chẳng xem dãy nhà tôi làm kia đã ngả nghiêng xiêu vẹo, hòm tủ thì méo mó xù xì đó sao”. Mọi người đều biết tính tình kỳ quặc của ông, nên ai muốn học nghề cũng chẳng bao giờ đến học ông.
Ông thợ mộc già suốt đời chưa vừa ý với tài nghệ của mình. Ông không dạy người khác mà ngay con cái trong nhà ông cũng không dạy. Suốt đời, ông ăn tiêu dè sẻn, tần tiện từng đồng, như vậy cũng đã dành dụm được ba trăm lạng bạc và ba con ngựa tốt, chờ khi các con khôn lớn sẽ chia cho chúng để chúng đi tìm thầy học nghề.
Ông thợ mộc già có ba người con trai. Con lớn là Lỗ Thuyên, mười tám tuổi; con thứ hai là Lỗ Tân, mười lăm tuổi; con nhỏ nhất là Lỗ Ban, mười hai tuổi. Lỗ Thuyên và Lỗ Tân đều là những kẻ lười nhác ngồi không ăn sẵn, từ lúc sinh ra cho đến lúc lớn, chiếc rìu đặt nghiêng không biết dựng lại, chiếc búa rơi không biết nhặt lên, cưa đục chẳng bao giờ động tay đến. Cha mẹ đều không thích hai anh lớn. Lỗ Ban từ nhỏ đã cần cù hiếu học, thường theo sát bên cha, giúp cha căng dây, làm các việc vặt, học cách vác rìu, cầm búa, cưa cắt cây gỗ của cha.
Một hôm tới bữa ăn trưa, bà mẹ chợt nhớ ra Lỗ Ban đã quá nửa ngày không ở nhà, bà lo lắng vội chạy ra ngoài đi tìm, tìm một hồi lâu mới thấy Lỗ Ban ở trước một ngôi nhà mới, đang ngồi ở một bên, hai tay chống má, ngây ra nhìn mấy người thợ mộc làm cánh cửa. Sáu bảy tuổi Lỗ Ban đã thích cầm rìu cầm cưa, khúc gỗ tròn đã đẽo được thành vuông, tấm gỗ dày đã cưa thành những phiến mỏng. Đến năm mười tuổi, thì mọi thứ đồ nghề Lỗ Ban đều dùng được cả, chiếc rìu chiếc đục luôn ở trên tay.
Lỗ Ban không lúc nào chịu rảnh tay, đóng rất nhiều hòm tủ, ghế con xe nhỏ, xếp đầy trong nhà ngoài hiên như một cửa hàng đồ gỗ nhỏ. Thấy mẹ ngồi trên giường lò kéo sợi rất tốn sức, Lỗ Ban liền lên núi Nam chặt một cây liễu về làm ghế cho mẹ: “Mẹ ơi, mẹ hãy ngồi trên ghế này mà kéo sa cho khỏi đau lưng”. Thấy giỏ kim chỉ của chị không có chỗ để, Lỗ Ban bèn lên núi Bắc chặt một cây du, đóng cho chị một chiếc rương gỗ: “Chị ơi, chị hãy đặt giỏ khâu vào đây cho khỏi lẫn kim vương chỉ”. Nhưng khi anh cả, anh hai bảo Lỗ Ban làm một chút đồ gỗ gì thì Lỗ Ban nói: “Có gỗ, có rìu, tự mình lại không làm được hay sao?”.
Cha mẹ và chị gái rất yêu quý Lỗ Ban. Ba anh em trai mỗi ngày một khôn lớn. Một hôm, người cha gọi con cả đến trước mặt nói:
– Con ơi, con đã lớn rồi, không thể chỉ dựa vào cha mẹ mà sống. “Nghé lên ba, trai mười tám” đang lúc nhiều sức lực này, con hãy đi học chút nghề nghiệp gì, hay là học nghề mộc đi, nhưng cha không dạy cho con được, cha vụng tay, nghề không giỏi, xưa nay chưa hề nhận một người học trò nào. Con hãy mang theo một trăm lạng bạc, cưỡi con ngựa lên núi Chung Nam tìm học ông tổ nghề mộc đang ẩn cư ở đó!
Ông già chớp chớp mắt nhìn Lỗ Thuyên. Quen lười nhác, Lỗ Thuyên nhăn nhó mặt mày chẳng nói chẳng rằng nhận số bạc cưỡi ngựa, lắc lư đi thẳng.
Ra khỏi nhà, Lỗ Thuyên nghĩ thầm: “Núi Chung Nam cách đây mười vạn tám nghìn dặm, đi đâu tìm thầy mà chẳng được”.
Hắn cưỡi ngựa, tìm đông tìm tây ba năm ròng, tiền bạc tiêu hết, ngựa cũng bán, trần trụi quay về nhà. Ông thợ mộc già chẳng nói nửa lời đuổi Lỗ Thuyên ra khỏi nhà. Ông lại gọi Lỗ Tân tới:
– Con ơi, con cũng đã mười tám rồi. Con hãy mang một trăm lạng bạc, cưỡi con ngựa hay, lên núi Chung Nam tìm thầy mà học! Thế nào cũng đừng có bắt chước như anh con.
Ông già chớp chớp mắt nhìn Lỗ Tân. Lỗ Tân ngoác mồm ra khóc thút thít, nhận số bạc rồi uể oải lên ngựa ra đi.
Lỗ Tân đi được một đêm một ngày, hỏi thăm thấy nói núi Chung Nam còn cách đây hơn một vạn dặm đường, hắn nản lòng. Mặc ngựa đưa đi lang thang suốt ba năm ròng, tiêu hết số bạc, ngựa cũng bán mất, Lỗ Tân khoác chiếc bao tải quay về. Ông thợ mộc già càng giận dữ, cầm luôn cây gậy bằng gỗ du đánh cho Lỗ Tân một trận rồi đuổi đi.
Ông già gọi Lỗ Ban lại, ứa nước mắt, xoa đầu chàng, nói:
– Con ơi, hai anh con không có chút tương lai gì, cha đã đuổi đi rồi. Niềm mong ước suốt đời của cha lần này đều gửi gắm ở nơi con. Con đừng để cho cõi lòng của cha phải chịu băng giá, chớ có làm như hai anh con…
Không chờ cha nói hết, Lỗ Ban đã tiếp lời:
– Cha ơi, cha cứ yên lòng! Con đã sắp sẵn tiền bạc, sửa soạn ngựa xong xuôi, chỉ chờ cha cho phép là ra đi. Không tìm được thầy, không học được nghề, con quyết không trở về gặp lại cha nữa!
Lỗ Ban từ biệt cha mẹ, lên ngựa phi thẳng về phía Tây. Ông thợ mộc già nhìn theo hút bóng con, chùi nước mắt, mồm lẩm nhẩm: “Chỉ có Lỗ Ban là khá…”.
Lỗ Ban vung roi thúc ngựa, người ngựa mải miết phi nhanh, một ngày đã đi được hơn ba trăm dặm đường. Lỗ Ban đi được mười ngày, vượt qua ba nghìn dặm đường, đã đi tới tận cùng con đường cái lớn quang đãng. Trước mặt là một trái núi lớn. Núi cao dốc đứng, đường quanh co khúc khuỷu mọc đầy gai góc và đá tai mèo. Lỗ Ban buồn rầu gò cương dừng lại. Giữa lúc đó chợt có một ông tiều phu già từ chân núi đi ra. Lỗ Ban nhảy xuống, dắt ngựa bước lên, chấp tay cúi chào:
– Thưa cụ, núi Chung Nam còn cách đây bao xa?
Ông già tiểu phu vuốt râu, chậm rãi nói:
– Hà, đi thẳng thì còn sáu nghìn dặm, đi đường vòng thì mất một vạn hai nghìn dặm, nếu muốn tìm đường ngắn nhất, thì phải vượt qua được ngọn núi cao này!
Lỗ Ban lại hỏi:
– Thưa cụ, cụ có cách nào giúp cháu vượt qua được trái núi lớn này không?
Cụ già lắc đầu:
– Núi cao như thế này, leo một năm cũng không tới được lưng chừng núi.
Lỗ Ban nói:
– Một năm leo không qua thì leo hai năm, hai năm leo không qua thì leo ba năm, không leo tới đỉnh núi thì có chết cháu cũng không chịu xuống núi.
Thấy Lỗ Ban nói kiên quyết như vậy, cụ già rất thán phục. Cụ cười nói:
– Cháu hãy mang theo chiếc dao rừng này của lão để chặt cây phá đá thì có thể leo lên đỉnh núi nhanh chóng được.
Lỗ Ban sung sướng vô cùng cúi đầu bái tạ cụ già, nhận dao rồi đi lên núi. Ngọn dao nhẹ phạt trên mặt đất, gai góc và đá nhọn đều sạch quang, Lỗ Ban đã mau chóng leo lên được đỉnh núi.
Chàng treo dao vào một cây cổ thụ, nhảy lên lưng ngựa đi thẳng theo con đường lớn về phía Tây. Lỗ Ban đi mười ngày nữa, lại vượt được ba nghìn dặm đường, tới chỗ tận cùng con đường cái quang đãng. Trước mặt là một con sông lớn chảy ngang qua. Nước sông xám xịt, ném một hòn đá xuống, hồi lâu vẫn không gợn chút bọt nước. Lỗ Ban buồn rầu gò cương đứng lại. Giữa lúc đó, chợt có một chiếc thuyền con từ bờ bên kia chèo sang, trên thuyền có một anh chài trẻ tuổi. Lỗ Ban xuống, dắt ngựa bước lên, cúi đầu vái chào:
– Anh ơi, từ đây đến núi Chung Nam còn bao xa nữa.
Anh chài giơ tay chỉ:
– Chà, đi thẳng thì còn ba nghìn dặm, đi đường vòng thì còn sáu nghìn dặm, muốn tìm con đường thuận tiện nhất thì phải vượt qua được dòng sông lớn này.
Lỗ Ban hỏi tiếp: Anh ơi, anh có cách gì giúp tôi qua sông không?
Anh chài chau mày:
– Không được đâu! Sông rộng nước sâu, từ xưa tới nay dòng sông này đã dìm chết không biết bao nhiêu người qua đường rồi.
Lỗ Ban nói:
– Không sợ nước sâu trông không thấy đáy, không sợ sông rộng đến tận chân trời. Không vượt qua được dòng sông lớn này thì có chết tôi cũng chẳng chịu quay về.
Thấy Lỗ Ban kiên cường như vậy, anh chài cười nói:
– Thôi chú em, hãy dắt ngựa xuống thuyền đi, tôi sẽ đưa chú qua sông.
Lỗ Ban qua sông, lại phi nhanh trên con đường lớn. Lướt gió đuổi theo măt trời mười ngày nữa, ba nghìn dặm đường đã lùi lại phía sau. Lại đi tới chỗ tận cùng con đường lớn. Trước mặt là một dãy núi cao. Lỗ Ban thầm nghĩ: “Dãy núi cao này là núi Chung Nam chăng?”. Đỉnh núi nhấp nhô, hàng nghìn con đường nhỏ khúc khuỷu quanh co. Đi theo đường nào lên núi được?
Lỗ Ban lại buồn rầu đứng lại. Giữa lúc đó chàng chợt nhìn thấy ở dưới chân núi có một ngôi nhà nhỏ, trước cửa có một bà cụ đang ngồi xe chỉ. Lỗ Ban liền dắt ngựa đi lên, cúi đầu vái chào:
– Thưa cụ, núi Chung Nam còn cách đây bao xa nữa?
Bà cụ đáp:
– Đi thẳng thì còn một trăm dặm, đi vòng thì còn ba trăm dặm nữa. Ba trăm ngọn núi, có ba trăm vị thần tiên: cháu muốn tìm vị nào?
Nghe nói vậy Lỗ Ban sung sướng vô cùng liền đáp:
– Cháu muốn tìm vị tổ sư nghề mộc. Chẳng hay phải đi theo đường nào ạ?
Bà cụ nói:
– Chín trăm chín mươi chín con đường nhỏ, con đường chính giữa là đường đi đó!
Lỗ Ban luôn miệng cảm tạ, rồi bắt đầu đếm từ phía bên trái bốn trăm chín mươi chín con đường, lại đếm từ phía bên phải bốn trăm chín mươi chín con đường, chàng bước lên con đường nhỏ ở chính giữa, cưỡi ngựa phi thẳng lên núi.
Lên tới đỉnh núi, Lỗ Ban chỉ thấy một nóc nhà lồi lõm ẩn hiện dưới rừng cây, lại gần thấy một ngôi nhà nhỏ ba gian. Lỗ Ban khẽ đẩy cửa bước vào, trong nhà rìu mẻ đục cùn bày la liệt trên mặt đất không còn chỗ len chân. Nhìn lên giường, Lỗ Ban thấy có một ông già đầu tóc bạc phơ đang nằm dang chân ra ngủ, tiếng ngáy vang như sấm. Lỗ Ban nghĩ thầm: “Ông cụ này chắc là ông tổ nghề mộc”.
Không dám làm kinh động tới giấc ngủ của thầy, Lỗ Ban lẳng lặng thu những rìu cùn cưa mẻ xếp vào trong một chiếc thùng gỗ, rồi ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế dài chờ ông cụ tỉnh dậy.
Ông già ngủ rất say, trở mình mấy lần rồi mà vẫn chưa thức giấc. Cho tận tới lúc mặt trời gác núi, ông già mới mở mắt ngồi dậy. Lỗ Ban bước lên, quỳ ngay xuống nền nhà nói:
– Thưa thầy, kẻ học trò này hôm nay đến bái yết thầy, cầu mong thầy thu nhận, dạy nghề cho.
Cụ già hỏi:
– Ngươi tên là gì? Từ đâu tới?
Lỗ Ban đáp:
– Con là Lỗ Ban, từ Lỗ Gia Loan, cách đây ngoài vạn dặm tới.
Cụ già lại hỏi:
– Đi học nghề, tại sao lại tìm đến ta?
Lỗ Ban trả lời rành rọt:
– Vì thầy là ông tổ của nghề mộc.
Cụ già ngừng một lát rồi nói:
– Ta phải hỏi ngươi một chút đã, nếu trả lời đúng ta sẽ thu nhận, nếu trả lời không đúng thì đừng trách ta không nhận, đến như thế nào thì cứ như thế ấy mà trở về.
Lỗ Ban giật mình:
– Nếu hôm nay: con trả lời không được, xin thầy để cho ngày mai. Hôm nào trả lời được xin thầy thu nhận cho vào học từ hôm ấy.
– Có mấy cột cái, có mấy cột quân, có mấy hàng rui, có mấy hàng mè?
Lỗ Ban trả lời ngay:
– Một ngôi nhà ba gian bình thường có ba cột cái, có ba cột quân, lớn nhỏ có hai mươi hàng rui, một trăm hàng mè. Từ khi lên năm con đã đếm kỹ.
Cụ già khẽ gật đầu, hỏi tiếp:
– Cùng một môn học, có người học ba tháng đã xong, có người phải học ba năm mới biết; vậy ba tháng và ba năm bắt nguồn từ ở đâu?
Lỗ Ban nghĩ một lát rồi đáp:
– Ba tháng học xong nghề, bắt nguồn từ con mắt; ba năm học xong nghề, bắt nguồn từ lòng mình.
Cụ già khẽ gât đầu, hỏi tiếp câu thứ ba:
– Một người thợ mộc dạy nghề cho hai học trò. Học trò lớn múa rìu một cái đã thu về được hàng núi bạc, học trò thứ hai múa rìu một cái đã khắc được tên mình trong lòng người. Nếu ngươi học xong nghề, sẽ đi theo người nào?
Lỗ Ban trả lời ngay:
– Con sẽ đi theo người thứ hai!
Cụ già thôi không hỏi nữa, cụ nói:
– Thôi được, ngươi đã trả lời đúng, ta sẽ nhận làm học trò. Nhưng có việc này là muốn học nghề của ta thì phải dùng được “đồ nghề” của ta. Những đồ dùng đó đã năm trăm năm nay chưa đổi, ngươi hãy mang đi sửa chữa.
Lỗ Ban đứng dậy, xách chiếc hòm gỗ đựng đồ nghề đặt xuống bên một hòn đá mài, lấy từng thứ ra. Lúc này chàng mới nhìn kỹ: lưỡi rìu đã mẻ, lưỡi cưa cùn không còn một răng nào, hai chiếc đục thì vừa cong vừa cùn hoen rỉ hết cả. Lỗ Ban không chút ngại ngần, xắn tay áo, bắt đầu mài. Chàng mài ngày, mài đêm, mài cho tới lúc hai cánh tay tê đại, hai bàn tay sưng phồng, hòn đá mài vừa dày vừa cao giờ đã mài lõm xuống như hình mặt trăng lưỡi liểm. Lỗ Ban mài luôn bảy ngày bảy đêm, lưỡi rìu đã sắc, răng cưa đã nhọn, đục đã hết hoen ri, mọi thứ “đồ nghề” đều đã mài sắc bén sáng loáng. Lỗ Ban đem từng thứ đưa cho cụ già xem. Cụ già chỉ khẽ gật đầu chẳng nói một lời được hay không được. Sau cùng cụ già nói:
– Để thử xem lưỡi cưa mài như thế nào, ngươi hãy ra cưa cho đổ cây cổ thụ mọc ở phía cửa. Cây này sống đã tròn năm trăm năm rồi.
Lỗ Ban vác cưa ra gốc cây cổ thụ. Thân cây lớn hai người ôm không xuể, ngọn cây cao vút tưởng như chạm tới trời xanh. Lỗ Ban ngồi dưới gốc cây bắt đầu cưa. Chàng cưa vừa đúng mười hai ngày mười hai đêm, mới cưa đổ được cây cổ thụ. Lỗ Ban mang cưa vào gặp cụ già. Cụ già lại nói:
– Để thử xem lưỡi rìu mài như thế nào, ngươi hãy đem rìu ra đẽo cây gỗ này cho thành một chiếc xà lớn. Phải đẽo cho nhẵn nhụi không còn một vết xơ và tròn như trăng đêm rằm.
Lỗ Ban quay mình mang rìu đi ra. Rìu vung lên chặt cụt các cành, bóc hết lớp vỏ cây. Đẽo gọt vừa đúng mười hai ngày mười hai đêm mới xong được chiếc xà lớn, Lỗ Ban mang rìu vào gặp ông cụ. Ông cụ lại nói:
– Chưa xong, để thử xem lưỡi đục mài như thế nào, ngươi hãy đem đục ra đục chiếc xà lớn thành hai nghìn bốn trăm lỗ: sáu trăm lỗ vuông, sáu trăm lỗ tròn, sáu trăm lỗ ba cạnh, sáu trăm lỗ hình thoi.
Lỗ Ban mang đục ra đục luôn. Vụn gỗ bay tả tơi, chàng càng đục càng thấy khoẻ ra. Đục vừa đúng mười hai ngày mười hai đêm, hai nghìn bốn trăm lỗ đục đã làm xong, Lỗ Ban mang đục vào gặp cụ già. Cụ già cất tiếng cười sung sướng, bước vội khỏi ghế, đón chiếc đục trong tay Lỗ Ban, lau mồ hôi trên mặt chàng rồi nói:
– Con yêu quý, không có gì làm con ngã lòng được! Ta sẽ đem tất cả nghề ta ra truyền dạy cho con!
Nói đoạn, cụ dẫn Lỗ Ban tới gian phòng phía Tây. Vừa bước vào, Lỗ Ban đã hoa cả mắt, phải mở to ra nhìn. Trong gian phòng này bày không biết bao nhiêu là hình mẫu, trong đó có đủ các loại nhà gác nhà lầu, cầu, tháp, bàn ghế, hòm tủ, cái nào cũng làm rất tinh vi. Cụ già cười nói:
– Con hãy tháo từng chiếc ra rồi lắp vào, mỗi hình mẫu tháo ra một lần lắp lại một lần. Tháo lắp thành thạo là nghề con cũng giỏi. Con hãy chuyên tâm mà học, ta chẳng nói nhiều.
Lỗ Ban cầm hình mẫu, lật đi lật lại xem xét, đặt ở trên tay chắng muốn buông rời. Thầy bảo tháo lắp một lần, Lỗ Ban tháo lắp tới ba lần. Ngày ngày chỉ thấy chàng vào trong phòng mà không thấy ra. Cơm để nguội cũng chẳng buồn ăn, tay chân mỏi rã rời cũng chẳng muốn nghỉ ngơi. Ngày ngày trước khi đi ngủ, cụ già đến thăm thì thấy Lỗ Ban vẫn ngồi tháo lắp trong phòng. Khi ngủ dậy, cụ đến thăm thì thấy Lỗ Ban hãy còn ngồi tháo lắp ở đó. Khi cụ già giục Lỗ Ban đi ngủ, chàng chỉ “dạ dạ…” nhưng tay vẫn nắm các hình mẫu không buông. Cứ như vậy, Lỗ Ban đã kiên trì trong suốt ba năm học được thành tài.
Thầy dạy muốn thử xem chàng học như thế nào, liền đem hủy tất cả các hình mẫu, nhưng Lỗ Ban nhờ vào trí bền bỉ của mình, đã lần lượt dựng lại được tất cả các hình mẫu. Cụ già lại đưa ra nhiều kiểu mới cho Lỗ Ban làm. Chàng chăm chú suy nghĩ một lát rồi rất nhanh chóng dựng nên các hình mẫu mới theo ý muốn của cụ già. Cụ già rất vừa ý. Một hôm cụ già gọi Lỗ Ban tới, lưu luyến nói với chàng:
– Con thân yêu, ba năm đã qua, nghề con cũng đã học thành tài, hôm nay con phải xuống núi thôi.
Lỗ Ban thấy lạnh hẳn một bên lòng:
– Thưa thầy, con chưa học thành nghề, xin thầy cho con học thêm ba năm nữa!
Cụ già cười:
– Sau này con hãy tự học lấy, hôm nay thế nào con cũng phải xuống núi thôi. Học trò sắp ra đi, thầy biết cho cái gì đây?
Cụ già nghĩ một lát rồi nói:
– Thôi được, rìu cưa đục con đã mài, ta đem tặng cho con mang theo mà dùng.
Lỗ Ban ngồi lặng đi, nhìn thầy mà khóc:
– Đứa học trò nghèo khổ này không biết lấy gì để lại tặng thầy…
Cụ già cười khanh khách:
– Ta không lấy gì của con cả, chỉ mong con đừng làm mất thanh danh của thầy là được rồi.
Lỗ Ban rưng rưng nước mắt, bái biệt thầy, xuống núi. Trên đường trở về, Lỗ Ban không tìm thấy bà cụ già chỉ đường, không gặp anh chài đưa chàng qua sông, không thấy ông già tiều phu cho chàng mượn dao vượt núi. Để đền đáp ân tình của họ, Lỗ Ban liền dựng một tòa miếu lớn ở dưới chân núi Chung Nam, bắc một chiếc cầu lớn qua sông rộng, xây một chiếc tháp lớn trên ngọn núi cao lần đầu tiên vượt qua. Truyền rằng những công trình xây dựng này ngày nay vẫn còn.
Lỗ Ban về nhà, gặp lại cha mẹ. Chàng nhớ lời dặn của thầy, mang những đồ dùng của thầy cho, đi làm nhiều việc có ích cho nhân dân, còn lưu lại những câu chuyện rất cảm động. Sau này, mọi người tôn thờ Lỗ Ban làm ông tổ của nghề mộc.

– Truyện cổ tích Trung Quốc –



04/03/2025

[Truyện ngắn] Hướng dương ngẩng cao đầu

Tôi muốn chia sẻ với mọi người một tác phẩm truyện ngắn của Trung Quốc mà cá nhân tôi thấy rất hay, ý nghĩa, giàu nhân văn và truyền cảm hứng, mọi người có thể thưởng thức cùng ly trà nóng.


Truyện: Hướng dương luôn ngẩng đầu

Tác giả: Do truyện được đăng trên mạng nên tôi cũng không biết tác giả là ai. Nếu ai biết thì giúp tôi cập nhật.

***

Năm 1985, tôi mười ba tuổi, nhà tôi xảy ra một chuyện lớn: cô tôi, người từng ngồi tù, đã ra trại.

Khi bố tôi quyết định đón cô về, cả làng náo loạn cả lên.

Trưởng thôn đến nhà khuyên ông: "Tường Quốc à, làng ta chưa từng có ai ngồi tù. Anh đón cô ấy về, danh tiếng của làng sẽ bị bôi nhọ mất thôi."

Bà nội từ nhà bác cả mắng nhiếc suốt dọc đường về nhà tôi: "Con đàn bà xui xẻo đó năm xưa dám bỏ trốn để khỏi cưới, đáng lẽ phải chết ở bên ngoài. Anh tài lanh cái gì chứ? Nhà nhiều tiền thì lo mà hiếu thảo với mẹ già này đây, chứ lo chuyện bao đồng tưởng hay ho lắm à?"

Ngay cả mẹ tôi cũng ném đũa xuống bàn, hét lên với bố: "Lâm Tường Quốc, nếu anh dám đón cô ấy về, thì tôi sẽ không sống với anh nữa!"

Chỉ có bí thư thôn lén lút dúi vào tay bố tôi năm đồng: "Con bé Lâm Mai này khổ lắm, trong nhà chỉ có anh còn nghĩ cho nó. Cầm lấy, đưa nó đi ăn chút gì ngon lành."

Tôi trốn trong bếp, nhìn bầu không khí nặng nề trong nhà, không muốn bố đi.

Nhưng ông vẫn mang theo một miếng đậu phụ rồi ra ngoài.

Mẹ vừa khóc vừa càu nhàu thu dọn đồ đạc, kéo em trai tôi, Lâm Nhược, về nhà ngoại.

Trước khi đi, bà nhìn tôi nói: "Mày ở lại trông chừng bố mày. Nếu người đàn bà đó dám ăn dù chỉ một hạt gạo của nhà mình, tao về sẽ tính sổ với mày."

Tôi lí nhí gật đầu, trong lòng hiểu rõ, bà không đưa tôi theo là vì mang hai đứa trẻ về ăn cơm, sắc mặt của mợ cả sẽ càng khó coi hơn.

Trong nhà không có ai, tôi chỉ dám nấu một nồi cháo loãng lót dạ buổi trưa, rồi cầm chổi quét sân đến tận khi trời tối, bố mới dẫn theo một người phụ nữ xa lạ nhưng lại có chút quen thuộc trở về.

Đó chính là cô tôi, Lâm Mai.

Lần cuối cùng nghe thấy tên cô là hai năm trước, khi có người đến làng báo tin cô bị đi tù, hỏi nhà có ai muốn vào thăm không.

Cô mặc một chiếc áo sơ mi đỏ rực, mái tóc uốn xoăn vén gọn sau tai, đẹp đến lạ, hoàn toàn khác với dáng vẻ lam lũ, ảm đạm của những thím trong làng.

Thế nhưng khuôn mặt cô lạnh lùng, ánh mắt đầy vẻ khó chịu quét qua một lượt khắp căn nhà, bực bội lẩm bẩm: "Căn nhà tranh rách nát này, ngay cả mái ngói đàng hoàng cũng không có, Lâm Tường Quốc, anh sống hèn mọn thật đấy."

Mắng xong, cô nhìn tôi hỏi: "Cháu là Tiểu Tuyết à? Mẹ với em trai cháu đâu rồi?"

Bố tôi cũng lên tiếng: "Mau gọi họ ra đi, cô cháu mua bánh bao nhân thịt đấy, hâm nóng rồi chia nhau ăn đi."

Tôi liếc nhìn bố, nhỏ giọng nói: "Mẹ không có ở nhà, mẹ đưa em trai về bên ngoại rồi."

Mặt bố xụ xuống ngay lập tức, ông ngập ngừng lấy từ trong túi ra một cái bánh bao: "Vậy con hâm một cái ăn đi, còn lại để dành cho em trai, mai bố sẽ đi đón họ."

Cô lập tức rút ra ba cái bánh bao, quắc mắt nói: "Lâm Tường Quốc, anh có biết suy nghĩ không đấy? Con bé 13, 14 tuổi, là tuổi ăn tuổi lớn, một cái bánh bao thì no được chắc? Bánh bao tôi mua, anh lấy quyền gì mà quyết định?" 

Chỉ vì ba cái bánh bao thịt ấy, tôi bỗng dưng thấy quý mến cô ngay lập tức.

Tôi ngày càng quý mến cô hơn.

Cô dám ngủ thẳng giấc đến khi mặt trời lên cao, bố tôi cũng không dám gọi, chỉ dặn tôi trông chừng cô rồi vội vã đi sang nhà ngoại từ sớm.

Sau khi ngủ dậy, câu đầu tiên cô hỏi tôi là: "Giờ này rồi, sao cháu vẫn chưa đi học?"  

Tôi gãi đầu, nhỏ giọng đáp: "Năm ngoái cháu tốt nghiệp tiểu học, mẹ không cho học tiếp nữa." 

Cô lại hỏi: "Thế cháu có muốn học tiếp không?"

Tôi lắc đầu: "Cháu học kém lắm, thôi không học nữa. Sang năm cháu sẽ đi làm phụ hồ ở xưởng gạch cùng với bố." 

Học phí một học kỳ cấp hai là năm đồng, bằng nửa tháng lương của bố ở xưởng gạch. Trong làng, con gái đều không học cấp hai. 

Cô không nói gì thêm, lặng lẽ ăn hết hai cái bánh bao cùng với cháo. Đang ăn dở, bố tôi ủ rũ quay về, phía sau không có mẹ và em trai. 

Cô nuốt miếng cuối cùng, lau miệng rồi nói: "Không về thì thôi, tôi có cách khiến bà ta phải năn nỉ để được về." 

Sau đó, cô chỉ vào tôi: "Con bé này mấy ngày tới sẽ theo tôi, tôi muốn dẫn nó ra ngoài." 

Bố tôi trừng mắt: "Em vừa mới ra tù, đừng có gây chuyện nữa, còn định làm hư con nít à?" 

Cô cũng trừng mắt lại: "Anh còn muốn vợ mình quay về không? Nếu muốn thì đừng lắm lời." 

Bố tôi muốn. Thế là cô tôi thành công dẫn tôi đi theo. 

Cô chọn từ nhà một cái thúng trống có nắp đậy, rồi dẫn tôi đi một quãng đường rất xa, đến tận bến xe buýt trấn trên.

*

Chiếc xe ấy, cả đời này tôi sẽ không quên. Vỏ xe sơn xanh trắng, thân xe dài, trước đây tôi chỉ có thể đứng nhìn từ xa, nhưng hôm đó, tôi đã lần đầu tiên được bước lên. Vé xe hai hào, 26 chỗ ngồi.

Tiền vé xe đủ để mua gần nửa cân thịt lợn, nên cũng không có nhiều người đi. Chúng tôi tìm được hai chỗ ngồi cạnh nhau, cô bảo tôi ngồi sát cửa sổ.

Cô nói: "Trên đường phải mở to mắt ra mà nhìn, không được ngủ. Về nhà, cô sẽ kiểm tra đấy."

Không cần cô dặn, tôi cũng không ngủ nổi. Thành phố ấy mà, tôi chưa bao giờ đặt chân tới. Ngay cả trấn trên, tôi cũng chỉ được đi hai lần vào dịp lễ Tết.

Đất bùn vàng dần dần nhường chỗ cho con đường nhựa phẳng lì, trên đường xe cộ qua lại tấp nập. Những tòa nhà ven đường cũng cao lớn, y hệt như trong sách ngữ văn đã miêu tả. Tôi lén đưa tay ra ngoài cửa sổ, cảm nhận cơn gió lùa qua vùn vụt.

Hơn hai tiếng trôi qua trong chớp mắt.

Chúng tôi xuống xe ở một con hẻm lộn xộn, cô dắt tôi men theo lối nhỏ đi vào bên trong. Nơi này náo nhiệt vô cùng.

"Tất bông đây, tất bông! Lấy sỉ từ một trăm đôi trở lên!"

"Chậu sứ năm hào một cái, bán sỉ từ mười cái. Bán lại có thể lời tám hào!"

"Kẹo lạc đây, hai đồng một cân, lấy từ hai cân trở lên, từ hai cân trở lên!"

……

Giữa dòng người đông đúc chen chúc, cô tôi len lỏi qua từng ngóc ngách, cuối cùng rẽ vào một sân nhỏ khuất nẻo. Trong sân có một người đàn ông béo mập.  

Cô hạ giọng nói: "Tôi được lão Đổng giới thiệu tới, muốn lấy áo sơ mi vải phíp." 

Người đàn ông trả lời: "Sáu đồng rưỡi một cái, tối đa ba mươi cái. Nếu lấy thì nhanh lên, hôm nay hết hàng rồi." 

Cô tôi không hề chớp mắt, nhanh chóng lấy ra một chiếc túi vải, rút từ trong đó một xấp tiền dày cộp, đưa cho người đàn ông, đổi lại một giỏ đầy áo quần. 

Những chiếc áo đó, tôi chẳng dám chạm vào. 

Nhà tôi rất nghèo. Hồi đó, khi chia tài sản, bà nội chia cho bác cả, ông nội chia cho bố tôi. Ông tôi sức khỏe kém, chữa trị suốt nhưng cuối cùng vẫn qua đời, nợ nần chất đống. 

Vì vậy, nhà tôi mỗi khi mưa đều phải dùng chậu hứng, ăn thịt chỉ vào dịp lễ Tết. Em trai ăn ba miếng, tôi ăn một miếng, và tôi cũng không thể học tiếp cấp hai. 

Tôi sợ làm bẩn những chiếc áo đó, nếu tôi làm hỏng, có bán tôi đi cũng không đủ để trả nợ. 

Nhưng cô lại dẫn tôi đi đến một con phố toàn nhà cao tầng. 

Cô cầm một chiếc áo giấu trong tay, đi qua trước tòa nhà đẹp nhất, lượn qua lượn lại. Thấy những người phụ nữ đi giày da, cô liền tiến lại gần, vén một chút tà áo lên, nhỏ giọng nói: "Chất liệu vải giống y như trong trung tâm thương mại ấy, họ bán mười hai đồng, tôi chỉ bán mười đồng thôi." 

Phần lớn đều lắc tay cô và vội vã đi mất, chỉ có một cô gái trẻ, sờ vào vải rồi nói: "Vải này giống hệt cái tôi thấy hôm qua, chín đồng, tôi lấy." 

Cô tôi làm vẻ khó xử, rồi nói: "Con bé này, thật biết mặc cả đấy. Thôi được, thấy con xinh, cô bán cho con vậy."

Nói vậy, nhưng tay cô nhanh chóng lấy một chiếc áo từ trong giỏ, một tay nhận tiền, tay còn lại đưa áo cho người mua.

Sau khi bán được chiếc áo đầu tiên, cô mới đưa tôi vào một con hẻm nhỏ bên cạnh và dặn: "Cháu thấy chưa, đó là công việc kinh doanh đấy. Cô sẽ tiếp tục bán, còn cháu ở đây trông mấy cái áo. Nếu thấy ai mặc đồng phục trắng có huy hiệu đỏ, cháu cứ ngồi lên giỏ, bảo là đang chờ người lớn trong nhà, nghe rõ chưa?"

Sau này tôi mới biết, số tiền một trăm chín mươi lăm đồng mà cô bán áo là toàn bộ gia sản của cô, và cô dám giao phó hết cho tôi.

Hôm đó, tôi không biết phải nói sao về cảm giác của mình. Vừa lo lắng sợ làm mất áo, vừa phấn khích vì mình có thể làm một giao dịch lớn như vậy.

Có lúc mười phút, có lúc cả một giờ, cô tôi lại dẫn người đến lấy một chiếc áo sơ mi. Đến tối, chúng tôi đã bán được mười chiếc.

Áo sơ mi giá sáu mươi lăm đồng, bán lại được chín mươi lăm đồng, lời được ba mươi đồng, bằng ba tháng lương của bố tôi.

Hai mươi chiếc còn lại, chúng tôi đổi ba địa điểm, sau ba ngày mới bán hết.

Tôi học được cách nâng giá lên trước, rồi đợi người khác mặc cả. Tôi cũng biết được rằng những người mặc đồng phục trắng có huy hiệu đỏ là nhân viên pháp lý, phải tránh xa họ.

Ngày cuối cùng, buổi sáng đã bán hết, còn rất lâu mới đến chuyến xe buýt cuối cùng. Cô tôi vào con hẻm bán buôn mua hai cân kẹo lạc.

Sau đó, cô đẩy tôi đến trước cổng trường, đưa giỏ cho tôi và nói: "Cháu thấy góc phố kia không? Ở đó cổng trường không nhìn thấy, nhưng học sinh vẫn đi qua. Cháu mang kẹo đến đó bán đi, năm xu một viên, toàn bộ tiền bán được là của cháu."

Tôi muốn nói, kẹo đắt như vậy, bọn trẻ sao có tiền mua được? Nhưng nhìn mấy đứa trẻ cùng lứa tuổi, đeo cặp sách, cười tươi rói, tôi không thể không thử một lần.

Tôi nhìn hai cô bé nắm tay nhau, hơi rụt rè nắm một viên kẹo, hỏi: "Kẹo lạc rất ngon, năm xu một viên, các cậu muốn mua không?"

Cô bé mập hơn đôi mắt sáng lên: "Cậu bán chỉ có năm xu à? Thế là rẻ hơn cửa hàng sáu xu đấy, tớ sẽ mua nhiều về để dành."

Rồi cô bé quay sang nói với bạn: "Tiểu Tinh, tớ không đủ tiền rồi, cậu cho tớ mượn chút đi."

Cô bạn thở dài bất lực, vẫn lấy trong túi ra một đồng và nói: "Đây là tiền lì xì bà cho, qua Tết cậu phải trả lại đấy."

Nhưng khách hàng đầu tiên đã mua gần hết nửa giỏ kẹo của tôi.

Sau đó, những khách hàng tiếp theo không hào phóng như vậy, nhưng từng chút một, kẹo cũng dần được bán hết.

Chỉ có khuôn mặt của hai cô bé ấy cứ lẩn quẩn trước mắt tôi.

Bà của họ lại cho hai cô bé tiền lì xì, và họ, lại dám tiêu hết vào việc mua kẹo ăn.

Cô tôi không nói gì với tôi, vẫn dẫn tôi đi bán hàng khắp nơi trong thành phố.

Giày dép, quần áo, túi xách, cái gì có thể mang vào cái sân nhỏ đó đều được bán hết. Chỉ sau vài ngày, cô đã để tôi tự đứng ở cổng trường bán đồ ăn vặt.

Dần dần, cô bé mập mạp tò mò hỏi tôi: "Chị lúc nào cũng kiếm tiền, ba mẹ chị không bắt chị làm bài tập hay học bài à? Chị dùng tiền này làm gì vậy? Chị đã có bao nhiêu món ngon rồi mà."

Tôi nhìn khuôn mặt ngây thơ của cô bé, bối rối trả lời: "Học hành thì hơn kiếm tiền à? Sao ba mẹ mình phải bắt mình học?"

Trường tiểu học chung của mấy làng gần nhau, mọi người đều vui vẻ học xong, thậm chí có người lên lớp ba thì không đến trường nữa.

Nhưng việc đầu tiên cô tôi làm khi về nhà là hỏi tôi sao không đi học, mấy học sinh ở đây cũng hay lén nhìn tôi, bàn tán tại sao tôi không đi học.

Thì ra, đi học ở thành phố là một việc nhất định phải làm sao?

Cô bé bị tôi hỏi mà không biết trả lời thế nào, nhưng cô bạn bên cạnh cô bé lại cố gắng nghiêm mặt nói: "Học hành đương nhiên quan trọng hơn kiếm tiền rồi, mẹ em nói, trong sách có tiền, ngoài tiền còn có rất nhiều thứ khác, những thứ đó người khác không thể nói ra, chỉ có chúng ta đọc rồi mới hiểu. Không có sách, bà ấy cả đời cũng không thể bước ra khỏi cái đống đất của bà ngoại."

"Học tốt, hướng về phía trước, ngày một tiến bộ. Những câu này các bậc vĩ nhân và mẹ tớ cũng đã nói, chắc chắn không có sai.”

Mẹ của chúng tôi không giống nhau, nhưng rõ ràng là cô ấy sống tốt hơn tôi, có phải vì mẹ cô ấy có ăn học không?

Tôi cũng muốn sống tốt như họ, nếu học hành có thể làm được, thì tôi cũng sẽ đi học.

Nhưng trong làng, chỉ có con của bí thư thôn mới được đi học, ngay cả con của trưởng thôn cũng chỉ có cậu con trai là tiếp tục học trung học.

Trên đường về, tôi nhìn cô tôi với ánh mắt đầy hy vọng, cô hiểu được ánh mắt của tôi, nhưng chỉ lạnh lùng nói: "Muốn đi học là chuyện của mày, nếu mày không đủ dũng cảm nói với ba mẹ, thì đừng lãng phí tiền."

Tôi mang theo đủ thứ đồ đạc, cúi đầu xấu hổ, tôi không dám, mẹ tôi sẽ không đồng ý.

Chị Tiền đi ngang qua, ngạc nhiên kêu lên: "Tiểu Tuyết, nhà mày phát tài rồi à, mua nhiều đồ thế này?"

Chị ấy nói với tôi, vì suốt bao nhiêu ngày cô tôi về làng, người trong thôn không ai nói chuyện với cô, còn lén lút chửi cô là người gây rối, không yên phận.

Họ nói rằng cô tôi năm đó bỏ trốn trong ngày cưới, nhà tôi đã nhận đủ sính lễ, khiến cho bác tôi suýt bị đánh chết. Giờ cô ngồi tù về lại phá hoại gia đình tôi, khiến mẹ tôi tức giận quay về nhà mẹ đẻ.

Khi cô tôi bỏ đi, tôi mới sáu tuổi, mơ hồ nhớ là nhà có một nhóm người đến đánh đập và đập phá, ông tôi bị thương phải đi viện, về nói là ông bị u, không lâu sau chúng tôi phải chia gia tài.

Khi mua đồ, cô tôi có dặn, nếu ai hỏi thì cứ nói to rằng tất cả đều là cô ấy kiếm được.

Tôi lấy hết sức nói lớn với chị Tiền: "Đúng vậy, tất cả đều là cô tôi mua đấy, cô ấy nói cô ấy ở nhà tôi một ngày thì sẽ trả tiền một ngày, mấy hôm nay tôi ăn rất ngon, cô tôi còn dẫn tôi đi ăn ngoài nữa."

Tôi không nói dối, tất cả đều là những món ăn đầy thịt, những con cá chiên chua ngọt, và món thịt kho đỏ bóng tan ngay trong miệng, tôi đã ăn hết tất cả.

Chị Tiền liếc môi: "Người đã ngồi tù thì khác, biết kiếm tiền, nhưng không biết tiền đó có sạch sẽ không, cẩn thận lại vào tù ăn cơm."

Cô ta lầm bầm bỏ đi, nhưng trước khi rời đi, vẫn không thể nhịn được mà liếc nhìn vào giỏ đựng đường, dầu, thịt và quần áo.

Không chỉ có cô ta, giờ là giờ mọi người trong làng về nhà, khi họ gặp nhau trên đường, ai cũng vô thức nhìn chằm chằm vào những món đồ trong giỏ. Nhưng khi quay mặt lại nhìn thấy cô tôi, họ đều khinh bỉ rồi bỏ đi.

Cô tôi không bận tâm, lau mồ hôi rồi nói với tôi: "Chờ đi, mẹ con chắc chắn sẽ về vào ngày mai, không muộn đâu."

Không cần đến ngày mai, tối hôm đó mẹ tôi đã về, là chú tôi tự tay đưa về.

Chú tôi mặt đầy vẻ giận dữ, đập bàn nói với ba tôi: "Chị tôi đã lấy anh, là người nhà họ Lâm rồi, sao anh để chị ấy về nhà mẹ đẻ ăn uống chùa thế hả? Nhà họ Lâm các anh còn biết mặt mũi không?"

Vừa nói, chú vừa liếc về phía cô tôi, rõ ràng là nghe nói cô tôi kiếm được tiền, nên muốn đến xin chút.

Mẹ tôi chắc chắn không thể ăn uống chùa, mỗi lần về đều phải đưa tiền, nếu không, không chỉ là dì tôi mà ngay cả bà ngoại cũng sẽ nói bóng gió đuổi mẹ tôi đi.

Nhưng cô tôi không hề phản bác, chỉ ném ra năm đồng rồi nói: "Hai mẹ con bọn họ suốt ngày ăn thịt, số tiền này cũng đủ rồi, coi như là cảm ơn cậu đã vất vả đưa chị hai tôi về."

Chú tôi nhận tiền rồi cười vui vẻ đi mất, nhưng mẹ tôi vẫn giữ vẻ mặt nghiêm túc, nói với giọng cứng rắn: "Đừng tưởng chỉ vì hai đồng tiền rẻ rúng mà tôi sẽ cảm kích, nếu cô không về, tôi và anh hai của cô cũng không cãi nhau đâu."

Cô tôi lại lấy ra một tờ tiền mười đồng, ném lên bàn: "Cũng không cần cảm ơn tôi, tiền này là do con gái của cô sáng sớm khuya muộn theo tôi kiếm được, tờ này cũng là thù lao của nó."

"Tiểu Tuyết, con tự nói đi, số tiền mười đồng này sẽ làm thế nào?"

Cô tôi nhìn tôi chằm chằm, như thể nói rằng cơ hội cô đã cho tôi, liệu tôi có dám nắm lấy hay không, tất cả phụ thuộc vào tôi.

Mẹ tôi cũng nhìn tôi, ý rất rõ ràng, số tiền này nên giao cho bà giữ.

Tôi siết chặt lòng bàn tay, cảm giác như nước mắt sắp rơi ra nhưng tôi lại nghĩ đến hai cô bé kia, tôi nghiến chặt răng rồi nói: "Con muốn dùng số tiền này để học cấp hai, sau khi tiêu hết rồi, con sẽ tiếp tục kiếm."

Bố tôi lúc đó đang hút thuốc, nghe thấy tôi nói vậy, ho sặc sụa. Mẹ tôi lập tức cầm một cây chổi lên quất vào chân tôi: "Học cấp hai? Tao bảo mày học cấp hai à? Nhà chúng ta có ai làm quan hay kiếm được nhiều tiền sao? Còn chưa đủ ăn, tiền là để mày cứ như thế tiêu xài sao?"

Tôi không dám chạy, nhưng cũng không nhượng bộ.

Cô tôi kéo tôi ra sau lưng, ngăn cản mẹ: "Được rồi, nếu các người không muốn nuôi, thì tôi sẽ đem con nhóc này đi. Nhưng các người phải suy nghĩ kỹ, tôi nuôi, thì con nhóc này không còn là con của các người nữa."

Mẹ tôi thở dốc, lời "Mày mang nó đi đi" đã ở bên môi, nhưng cuối cùng bà chỉ thốt ra một câu: "Cô dám mang đi à? Nó là thịt trên người tôi, nếu không trả hết ân tình, đi đến đâu trời cũng sẽ đánh nó chết."

Cô tôi nghe vậy, bỗng nhiên cười, nụ cười châm biếm: "Giang Xuân Lan, cô ghét mẹ cô đến thế sao? Cô vẫn sống giống hệt bà ấy. Ngày xưa cô muốn bà ấy cho mang theo một ít của hồi môn, bà ấy cũng vậy, ở nhà tôi, vừa đánh cô vừa nói cô đáng bị sét đánh."

Cô chỉ vào tôi: "Cô còn nhớ những lời cô đã thề không? Cô nói nếu có con gái, nhất định sẽ đối xử với nó như bảo bối."

Cô chỉ vào em trai tôi: "Hôm nay nếu thằng bé muốn học, cô cũng sẽ đánh như vậy sao? Sao, sinh ra con trai rồi, cô đã quên mình cũng từng là một đứa con gái hả?"

Tôi không khóc, nhưng mẹ tôi đã khóc.

Ba tôi im lặng ôm Lâm Nhược, người đã bị hoảng sợ, vào phòng, còn cô tôi kéo tôi ra ngoài, để mẹ một mình ở bếp nghẹn ngào.

Cô tôi dẫn tôi ra sân, những ngôi sao trên trời rất sáng.

Cô nói với tôi: "Cô không kéo những người không thể tự đứng dậy. Loại người đó, kéo ra ngoài rồi cũng sẽ lại ngã xuống. Hôm nay con rất dũng cảm, con đã bước ra khỏi bước đầu tiên, cô sẽ sẵn sàng giúp con đi thêm rất nhiều bước, cho đến khi con hoàn toàn đi ra khỏi chốn này."

Tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ lục tìm trong phòng sách vở còn sót lại, những thứ khác tôi đã bán hết, chỉ còn lại sách vở cho học kỳ cuối cùng.

*

Ngày hôm sau, mẹ tôi vẫn như mọi khi lo cơm nước, chỉ là bà đã rộng rãi hơn nhiều, món thịt cô tôi mua về bà đã nấu hết một nửa.

Trên bàn ăn, bà gắp một miếng thịt cho Lâm Nhược, rồi cứng nhắc gắp cho tôi một miếng, dù không nói ra, nhưng trong gia đình chúng tôi, đó là sự đồng ý.

Cuối cùng, cô tôi lườm mắt nói: "Thế ra chỉ có bọn trẻ con mới được coi là người sao? Còn chúng ta, ba người lớn này, không xứng đáng được ăn thịt à? Đừng làm vậy, đi theo tôi, sau này mỗi ngày sẽ có thịt ăn, đừng tiết kiệm miếng thịt này để làm gì."

Mẹ tôi ngẩng mắt nhìn cô tôi: "Đi theo cô, lại tiếp tục làm ăn phi pháp à? Rồi lại vào tù lần nữa à?"

Thì ra cô tôi vì chuyện này mà vào tù. Nhớ lại những việc chúng tôi làm trong những ngày qua, tôi cảm thấy có chút xấu hổ và liền xoa xoa quần.

Cô tôi lại lấy ra một tờ báo từ trong túi, nói: "Tin tức đã đưa rồi, bây giờ đang khuyến khích nghĩ thoáng, khuyến khích kinh tế cá thể. Nếu không phải như thế, sao tôi có thể được thả trước thời hạn? Chỉ là ở nơi chúng ta nhỏ quá, gió chưa thổi đến, vẫn còn người bị bắt."

Mẹ tôi ngơ ngác hỏi: "Kinh tế cá thể là gì?"

"Cái này là bán hàng rong, người dân tự mở cửa hàng, chị xem trên báo này, ông chủ bán hạt dưa còn được ông Đặng Tiểu Bình biết đến, ông ấy còn khuyến khích ông chủ tiếp tục làm. Vậy chúng ta còn sợ gì?"

Mẹ tôi không biết chữ, bà đặt tờ báo trước mặt tôi: "Tiểu Tuyết, con đọc cho mẹ nghe xem, có phải như cô con nói không?"

Tôi vừa nhìn vừa gật đầu: "Mẹ, người này giỏi thật đấy, chỉ bán hạt dưa mà ông ấy có thể thuê hơn trăm người làm cho mình."

Bố tôi cũng hiếm khi lên tiếng: "Cô con làm hạt dưa ngon lắm, hồi trước mỗi dịp Tết, bọn trẻ trong làng thích đến nhà chúng ta để xin hạt dưa."

Người dân ở quê thường tự cung tự cấp, mỗi nhà trong làng đều trồng một ít hoa hướng dương để tự rang ăn, những nhà thương con cái thì sẽ trồng đủ lượng dùng cả năm.

Bây giờ là mùa hoa hướng dương chín, mỗi ngày trên con đường ruộng về nhà, những cánh đồng vàng rực đẹp lắm.

Cô tôi mỉm cười tự tin: "Tôi rang hạt dưa ngon, nên tôi cũng muốn làm giàu từ nó, anh hai, chị hai, hai người có muốn làm cùng tôi không?"

Bố mẹ tôi đã thảo luận trong phòng suốt hai ngày, cuối cùng chính thức gia nhập vào công việc của cô tôi.

Những ngày qua, số tiền cô tôi kiếm được trở thành vốn, còn bố mẹ tôi thì giúp sức, họ thật thà và tốt bụng, mối quan hệ trong làng rất tốt, lại có sự hỗ trợ của bí thư thôn, với mức giá do cô tôi định ra, họ nhanh chóng thu gom được rất nhiều hoa hướng dương từ các làng lân cận.

Mãi sau này tôi mới biết, đó cũng là một trong những lý do cô tôi bỏ lại thành phố lớn và quay về quê, vì lúc đó nếu không có người quen, việc thu mua nguyên liệu sẽ rất khó khăn đối với cô ấy.

Khi mẻ hạt dưa đầu tiên ra lò, tôi vẫn chưa đi học, mỗi khi cô tôi đi bán hàng, tôi đều đi cùng, tôi muốn thử một lần nữa bán hàng ở cổng trường đó.

Tôi đã đợi rất lâu, cuối cùng cũng gặp lại hai cô bạn đó.

Tôi đưa cho họ hai gói hạt dưa đã gói sẵn từ lâu: "Những cái này không lấy tiền, chỉ muốn cảm ơn các bạn, tôi sắp phải đi học rồi, có lẽ sau này sẽ không còn bán hàng nữa."

Cô bé mũm mĩm lại tiếp tục mắt sáng lên mỗi khi nhìn thấy đồ ăn, mở bao ra rồi cắn từng miếng hạt dưa, vừa ăn vừa nói: "Ôi, hạt dưa này ngon quá, vừa giòn lại còn có mùi thơm nướng, ngon hơn cả những hạt dưa mẹ mình mang từ An Huy về."

Cô bạn của cô bé cũng rất nhiệt tình, đưa tay ra bắt tay tôi và nói: "Chào bạn, mình tên là Du Liễu, cậu ấy là Trần Anh, chúng ta làm bạn nhé."

Tôi có hai người bạn thành phố, chúng tôi trao đổi địa chỉ và họ nói sẽ gửi thư cho tôi mỗi tháng, gửi về trường học ở thị trấn.

Lúc đó, tôi chỉ cảm thấy vui vẻ mà không biết rằng đó là một món quà vô giá. Du Liễu đã gửi cho tôi tất cả sách giáo khoa và vở ghi chép của cậu ấy từ tiểu học, tiền gửi thư là cậu ấy và Trần Anh cùng nhau góp lại.

Cùng với đó, còn có một bức thư pháp mà mẹ của Du Liễu gửi cho tôi: "Học tập chăm chỉ, hướng về phía trước."

Mẹ tôi biết nguồn gốc và ý nghĩa của bức thư pháp đó, thỉnh thoảng bà lại nhìn vào nó và ngẩn người.

Cô tôi nói với tôi: "Con phải nỗ lực, những quan niệm cũ không dễ dàng thay đổi đâu. Mẹ con cảm thấy có lỗi, và mỗi khi bà ấy cảm thấy như vậy, con phải biết tận dụng cảm giác ấy để đi đến những nơi mà bà ấy không thể với tới, chỉ có như vậy con mới có thể thay đổi được số phận."

Tôi đã nghe rồi khắc sâu vào lòng, vì vậy mỗi ngày tôi phải đi bộ một giờ đồng hồ để đến trường, đôi khi còn dính sương, tranh thủ làm lại những bài học đã lỡ bỏ qua vì lười biếng.

Học sinh ở thị trấn đã biết tầm quan trọng của việc học từ rất sớm, nền tảng của họ tốt hơn tôi nhiều, tôi ăn cũng phải học, đi đường cũng phải học, thậm chí cả lúc đi vệ sinh cũng tranh thủ học.

Đến khi kết thúc học kỳ đầu tiên, tôi cuối cùng từ vị trí cuối bảng đã trở thành một học sinh trung bình khá.

Trong khi đó, việc kinh doanh hạt dưa ở nhà lại phát triển nhanh hơn cả thành tích học tập của tôi.

Hạt dưa của cô tôi ngay từ đầu cũng giống như khi cô ấy dẫn tôi đi bán, cùng với mẹ tôi bán lẻ ở thành phố, sau đó dần dần nổi tiếng. Cô ấy hiểu rõ các thủ tục bán hàng rong, rồi thuê một gian hàng ở các khu vực phía nam và phía bắc thành phố để bán.

Ngay cả bố tôi cũng từ bỏ công việc, tập trung ở nhà rang hạt dưa, cả ba người đều có cánh tay cơ bắp hơn trước.

Cực khổ, nhưng thành quả thì khiến lòng người vui mừng.

Điều đầu tiên là những khoản nợ để chữa bệnh cho ông nội cuối cùng cũng được trả hết.

Bố tôi một lần lại một lần đưa tiền đi, từng tờ giấy nợ bị vứt vào trong lò sưởi, khi trả hết khoản cuối cùng, dáng người ông cũng thẳng lên, ngay cả lúc đi dạo trong làng cũng không còn cúi gập lưng như trước nữa.

Cô tôi thì lại rất phô trương, dù phần lớn công sức là của cô ấy, cô ấy mua mảnh đất ngay bên cạnh nhà tôi, xây một ngôi nhà hai tầng xinh đẹp, phía sau còn có một kho lớn.

Khi ngôi nhà hoàn thành, pháo nổ vang trời, một chiếc xe tải nhỏ chở chiếc tivi và máy giặt đầu tiên của làng vào nhà cô tôi.

Mẹ tôi lo lắng thì thầm với bố tôi: "Tiền tài không nên phô trương, cô ấy khoe khoang như vậy, e là sẽ gây rắc rối cho chính mình."

 

*

 

Nói gì thì cũng đến, không lâu sau, bà tôi đã nằm trước cổng nhà cô tôi, gào thét: "Con gái bất hiếu, về nhà bao lâu rồi mà không thèm gặp mẹ, giờ thì sống trong ngôi nhà to, còn để mẹ đói bụng. Dù có nhiều tiền đi nữa, cũng chỉ là loài thú, đáng bị người khác nhổ vào mặt!"

Bà tôi chọn đúng thời gian mọi người ra sân sau bữa cơm để thư giãn, không bao lâu, người trong làng từ truyền tai nhau, tất cả đều đến xem náo nhiệt.

Tôi bỏ dở bài tập, chạy ra ngoài, chỉ nghe thấy tiếng của thím Điền to oang oang: "Đúng vậy, trước kia phong tục trong làng chúng ta tốt biết bao, từ khi cô ta trở về, làng này có càng ngày càng nhiều cãi vã."

Mọi người ghen tị vì cô tôi phát tài mà không làm gì được, đành phải về nhà mà cãi nhau thôi.

Thực ra, có vài người dũng cảm đã thử, nhưng không phải là do họ không biết cách rang hạt dưa, mà là vì không quen với thành phố, cuối cùng đều thua lỗ và phải về nhà.

Những người này giờ đây càng hét lên to hơn.

"Thật đáng thương, nuôi con lớn, chẳng được hưởng phúc ngày nào, còn bỏ đói mẹ mình, sau này chắc chắn sẽ bị sét đánh."

"Loại người mất nhân tính như vậy, không nên ở lại làng chúng ta, trưởng làng đâu rồi? Trưởng làng phải đuổi cô ta đi!"

Trong tiếng ồn ào đó, bố tôi cầu xin mọi người bớt nói vài câu, nhưng không ai nghe.

Cô tôi vẫn đứng đó lạnh lùng, chờ cho đến khi mọi người mệt mỏi và im lặng. 

Lúc ấy, cô mới nhìn chằm chằm vào bà chị dâu đang ẩn mình trong đám đông và nói: "Chị dâu, tôi nhớ là mẹ tôi mang theo vốn liếng khi đến nhà chị, giờ bà nói không có gì ăn, chẳng phải đang nói anh trai đã tham lam lấy hết tiền của bà còn không nuôi bà sao? Nếu thật như vậy, thì tôi, đứa con gái này, sẽ phải thay mẹ đòi lại công lý."

Câu nói vừa dứt, ngay cả bà ngoại tôi, người đang nằm trên đất và uốn éo linh hoạt, cũng khựng lại một chút. Mọi người lúc này mới nhớ ra, chúng tôi đã chia gia tài.

Mẹ tôi đứng bên cạnh tôi, nắm chặt thịt tay để kìm lại không bật cười. Không ngờ, chính cô tôi mới là người giúp mẹ trả lại những bức bối suốt bao năm qua.

Mẹ tôi đã trải qua những năm tháng gian khổ.

Khi chưa chia nhà, mọi thứ trong gia đình đều do ông bà quản lý, nhà bác cả ăn đầy đủ, còn nhà tôi chỉ được ăn cháo loãng. Mẹ tôi cãi nhau, thì ba tôi lại ngu muội bảo rằng bác cả sau này phải nuôi dưỡng ông bà, nên bà tôi mới thiên vị một chút, nhà nào chẳng vậy.

Nhưng khi ông tôi bệnh thật, bà tôi lại như hôm nay, nằm ngay chỗ nổi bật nhất trong làng, làm ầm lên rằng ba tôi không hiếu thảo, không cho ông tôi chữa bệnh. Cuối cùng, như bà muốn, gia đình chúng tôi chia ra, bà mang tiền sang nhà bác cả, còn ông tôi thì để lại cho chúng tôi.

Làng tôi rất nghèo, vì bệnh của ông tôi, nhà tôi lại càng nghèo hơn.

Điều tốt duy nhất từ chuyện này là, trái tim ba tôi rốt cuộc cũng lạnh nhạt. Từ đó, tiền trong nhà đều do mẹ tôi quyết định, bà không thể lấy được một xu.

Khi bà nghe cô tôi chỉ trích bác cả, bà đột nhiên ngồi dậy, không chút dấu hiệu của việc đã bị đói khổ, nói: "Đừng có nói bậy, thằng cả hiếu thảo biết bao nhiêu, có đồ ăn ngon đều chia cho tôi. Tôi nói đói là vì tôi ăn cháo, còn chúng mày bất hiếu, ăn thịt mà không cho mẹ. Nhà thằng cả không mua nổi thịt, đâu phải lỗi của nó, chúng mày không cho mẹ ăn đồ tốt mới là bất hiếu, có hiểu không hả?"

Lần này, bà lại mắng cả ba tôi, ý rõ ràng là muốn cô tôi cũng mang bác cả cùng kiếm tiền.

Bác cả là một con bạc nổi tiếng trong làng, một người mà cả làng đều ghét, thậm chí còn đáng ghét hơn cả những người bị lao động cải tạo. Ông ta không keo kiệt giống như thím Điền, nhưng cũng không mở lời nói giúp bà.

Lúc này, trưởng thôn đến. Ông khẽ ho một tiếng rồi hô lớn: "Làm ầm ĩ gì vậy, Lâm Mai làm ăn ở làng chúng ta, ít nhất cũng thu mua hướng dương của các bà, để các bà kiếm thêm chút tiền, nếu cô ấy thật sự rời đi, các bà có thể bù lại số tiền đó không?" 

Khi nhắc đến tiền, vì ghen tỵ một lúc, mọi người đều im lặng. Nhưng trưởng thôn cũng lén lút nói với cô tôi: "Tôi thấy cô xây kho lớn như vậy, có ý định làm ăn lớn đúng không? Vậy mẹ cô, chuyện này phải giải quyết đi. Ở đây, đức hiếu mới là điều quan trọng nhất, nếu làm hỏng danh tiếng thì không có lợi đâu." 

Cô tôi dường như đã chuẩn bị sẵn, nâng giọng nói với mọi người: "Bây giờ tôi kiếm được chút tiền, nhưng mọi người đều biết mẹ tôi là người thiên vị, tôi đưa tiền cho bà ấy, bà ấy chắc chắn sẽ đưa cho anh cả đánh bạc, vậy bà ấy lại không chịu thôi, đó không phải là hiếu thảo thật sự." 

Cô tôi nói: "Vậy thì, tôi cần tuyển người để rang hạt, tôi sẽ cho anh cả một công việc, mỗi tháng trả cho anh ấy hai mươi đồng. Mẹ tôi muốn mua gì cũng đủ, còn có thể giúp anh ấy không có thời gian đi đánh bạc." 

Vừa dứt lời, có người nhanh chóng hỏi: "Nếu cô cần tuyển người, sao không tuyển người trong làng?" 

Cô tôi cười nhạt một cái: "Nhìn mọi người sống khổ như vậy, ban đầu tôi định trả mười lăm đồng một tháng, tuyển mấy người, nhưng bây giờ, mọi người không ưa tôi, thì thôi, tôi sẽ ra làng bên cạnh mà tìm." 

Lương của đa số người trong làng đều giống như trước đây của ba tôi, khi nghe đến mười lăm đồng, thím Điền liền đánh vào miệng mình, nói: "Là tôi nói nhanh quá, không nên can thiệp vào chuyện nhà người khác, mọi người là đồng hương mà, cô cho chúng tôi một cơ hội, đừng làm mọi chuyện trở nên tuyệt vọng như vậy." 

Những người chỉ đứng xem càng trở nên lo lắng: "Chúng tôi vừa rồi đâu có mở miệng, cô trách mấy người nhảy nhót ồn ào, đừng kéo chúng tôi vào nhé." 

"Nhảy nhót ồn ào gì chứ? Tôi chỉ bị mẹ cô lừa thôi, đúng rồi, là tôi bị lừa đó." 

"Ngày xưa tôi còn cho cô kẹo ăn, cô tuyển người thì đừng quên nhà dì của tôi." 

……

Mọi người nói qua nói lại, đến khi tất cả đã nói hết những lời mềm mỏng, trưởng thôn mới đứng ra hòa giải: "Lâm Mai, cô dù sao cũng là người từ trong làng đi ra ngoài, thế này đi, cô cho tôi một chút thể diện, chỉ tuyển người trong làng, tuyển mấy người thật thà, tôi đảm bảo những người không được tuyển sẽ không dám đến gây chuyện đâu." 

Cô tôi không đồng ý cũng không từ chối, nửa thật nửa giả nói: "Vì anh đã lên tiếng, tôi sẽ nghĩ lại, hai ngày nữa tôi sẽ trả lời anh."

*  

Tin tuyển dụng của cô tôi giống như một giọt nước rơi vào chảo dầu, nhưng chẳng ai dám đến tìm cô ấy, tất cả đều đến dò hỏi mẹ tôi, còn bảo các cô gái trong nhà đến chơi với tôi. 

Cô tôi giao cho tôi một nhiệm vụ, bảo tôi dẫn các cô gái đó xem tivi, nhất là những chương trình và phim về các thành phố lớn. 

Chúng tôi đều xem mê mẩn, con gái của thím Điền không nhịn được hỏi tôi: "Lâm Miêu, cậu đã đi thành phố rồi, thành phố thật sự như vậy sao? So với thị trấn còn tốt hơn nhiều sao?" 

Tôi gật đầu kiên quyết: "Đúng, thành phố tuyệt lắm, bạn tôi ở thành phố nói với tôi, chỉ cần học thật tốt, tôi sẽ được vào học trung học ở thành phố, sau này còn có thể đi Thượng Hải, Bắc Kinh học đại học." 

"Wow, Bắc Kinh, đó có phải là nơi có Quảng trường Thiên An Môn không?" 

Những lời thán phục về thế giới khiến số lượng trẻ em đến xem tivi ngày càng nhiều, ngay cả dì tôi cũng đã cho con gái lớn của dì đến nhà cô tôi để tạo mối quan hệ. 

Người ta thường nói hạnh phúc là phải so sánh mới thấy, khi ba mẹ yêu thương em trai tôi hơn, con gái dì tôi là người tôi thường so sánh để an ủi bản thân. 

Ba mẹ tôi sẽ cho em trai tôi ba miếng thịt, ít nhất họ sẽ cho tôi một miếng, còn bản thân họ rất ít khi ăn. 

Còn nhà dì tôi, con gái dì ấy chẳng bao giờ có cơ hội lấy được một bát canh thịt, tất cả đều là của em trai, bà nội và ông chú của cô ấy. 

Bàn tay của cô ấy rất thô ráp, mọi người đang xem tivi, nhưng cô ấy lại lén lút lật sách của tôi, tôi tiến lại gần, cô ấy ngượng ngùng rút tay lại, cười ngây ngô nói: "Mình chỉ xem thôi, không làm hỏng đâu." 

Tôi bỗng nghĩ lại, trước khi cô tôi đến đây, tôi cũng có cảm giác như thế này.

Tôi học theo cách mà Du Liễu đã làm với tôi, lấy ra tất cả những cuốn sách mà cô ấy đã gửi cho tôi, mở đến bài học lớp một và nói với chị họ: "Chị, sau này giờ này khi xem tivi, chị cứ đến tìm em, em sẽ dạy lại từ đầu cho chị." 

Chị họ tôi lớn hơn tôi năm tháng, nhưng chị ấy đã bỏ học từ lớp ba, xa rời sách vở còn xa hơn tôi lúc trước. 

Chúng tôi bí mật đạt được thỏa thuận này, và tôi cũng hoàn thành nhiệm vụ của mẹ tôi. Những người kết thân với mẹ tôi, tất cả đều nhận ra ý trong lời nói của bà, rằng cô tôi rất thích có con học hành trong nhà, đặc biệt là con gái. Nếu có tuyển người, chắc chắn sẽ ưu tiên tuyển những người như vậy. 

Một học kỳ học phí chỉ vài đồng, một tháng có thể kiếm lại được, bà Tần là người nhanh nhất, ngày hôm sau đã đến trường hỏi về chính sách nhập học. Giáo viên đề nghị con gái bà ấy học thêm một năm lớp sáu, và bà ấy đã quay về làm thủ tục.

Mọi người đều chờ xem, bà Tần đã chuẩn bị sẵn nhiều lần cho cô tôi, nếu đạt đủ yêu cầu, không biết cô tôi có tuyển không.

Cô tôi không hề do dự một chút nào, ngay trong ngày hôm đó đã tự mình đến thông báo cho bà Tần rằng bà có thể bắt đầu công việc.

Những người còn đang quan sát, lần lượt cũng có năm sáu gia đình gửi con gái đi học. 

Lần học này khác hẳn với trước kia, trước đây họ không hiểu vì sao phải học, nhưng bây giờ họ đã có sự ngưỡng mộ đối với thành phố, phần lớn đều học rất chăm chỉ. 

Lời nói của những người học hành chăm chỉ là khác biệt, người lớn trong nhà đều nhận thấy, hiểu được lợi ích, và họ đều bận rộn đưa con trai đi học. 

Tôi mơ hồ hiểu rằng cô tôi đang làm một việc rất vĩ đại, nhưng lại không hoàn toàn hiểu rõ. 

Cô tôi nhìn thấy sự bối rối của tôi, vừa xem bảng điểm của tôi, vừa hỏi tôi: "Con biết tại sao cô lại bỏ trốn không chịu cưới không?" 

Tôi chỉ nghe thấy chuyện đó khi mẹ và bà nội cãi nhau, lúc đó bác trai vừa bắt đầu đánh bạc, nợ rất nhiều tiền, và bà nội đã lấy một khoản sính lễ rất cao để gả cô. 

Tôi đang đọc một cuốn tiểu thuyết về tự do, nên đoán: "Cô, một người mạnh mẽ như vậy, chắc chắn là vì tự do, để phản kháng cuộc hôn nhân sắp đặt của ông bà nội." 

Cô tôi bật cười một tiếng: "Còn tự do gì nữa, lúc đó cô còn không biết chữ, ngay cả hai chữ 'tự do' viết thế nào còn không biết. Đơn thuần là bà nội vì tiền, người mà bà tìm cho cô vừa già vừa xấu. Nếu như người đó giống như bố con, có lẽ cô đã không bỏ trốn rồi." 

Cô tôi chìm vào hồi tưởng, nói với một chút cảm khái: "Nhưng khi bỏ trốn rồi mới phát hiện, thế giới thật rộng lớn. Tấm vé xe của cô là đi Hàng Châu, đến nơi mới biết, hóa ra con gái cũng có thể được coi là người.”

“Cô của cô, người đã âm thầm thuê nhà cho cô, là một người Thượng Hải. Bà ấy mỗi ngày đều nấu những bữa cơm thơm phức, luôn để hai miếng sườn trên cơm, nhưng không cho ai ăn, chỉ để lại cho con gái của bà.” 

“Có một lần vào dịp Tết, bà ấy bảo cô thử một miếng. Khi ăn, cô bỗng dưng bật khóc.” 

“Cô và mẹ con đều cứng đầu, nhưng khi còn nhỏ, chúng ta cũng chỉ dám âm thầm hận bà nội và bà ngoại. Chúng ta không dám nói bà ấy sai, vì nhà nào cũng làm như vậy, gả con gái để đổi sính lễ cho con trai.”

“Nhưng hôm đó, cô cuối cùng cũng dám nói với chính mình, là họ sai rồi, việc cô bỏ trốn khỏi hôn lễ là đúng đắn."

Tôi cúi đầu suy nghĩ, thì ra đây là lý do cô tôi dẫn tôi vào thành phố bán hàng, và nhất định muốn tôi bán hàng trước cổng trường. Cô muốn tôi nhìn những cô gái trẻ trung, để tôi thấy họ sống như thế nào, từ đó tôi sẽ sinh ra sự không cam lòng và khát khao.

Cô tôi vuốt tóc tôi, nhẹ nhàng nói: "Con biết tại sao cô lại sẵn sàng dẫn ba mẹ con làm không? Mẹ con hồi trước không phải như vậy, cửa thoát hôn của cô là do bí thư thôn giúp, nhưng tiền vé tàu lại là ba mẹ con cho. Ba con thật thà, mẹ con kiên cường, nhưng sống trong hoàn cảnh như vậy, dần dần họ cũng thay đổi, suýt chút nữa còn làm hại đến con."

Tôi không phục, tôi không chỉ muốn mình sống tốt, mà còn muốn thay đổi nơi này, biến nơi này thành một nơi mà sau này ai nhắc đến tôi cũng phải giơ ngón tay cái, giống như cô giáo của tôi vậy.

Cô tôi nhắc đến cô giáo của mình, chắc chắn rất tài giỏi, tôi vội vàng hỏi: "Cô ơi, cô giáo của cô là ai, dạy ở trường nào? Con muốn thi vào đó để cô ấy dạy con."

Nói đến đây, cô tôi hiếm khi tỏ ra xấu hổ, cô kể: "Lúc đó, cô chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền, cùng với mấy người khác loay hoay này nọ, không có học thức cũng chẳng hiểu gì, làm ra một đợt hàng kém chất lượng, thế là cô bị bỏ tù."

“Nhưng trong tù, cô gặp được cô giáo của mình, một nữ giáo sư từ Đại học Chiết Giang, bà đến dạy chữ miễn phí cho bọn cô, những nữ tù nhân này.” 

“Ngày cô ra tù, chính cô giáo ấy đã đưa cho cô một tờ báo, khích lệ cô: "Lâm Mai, thời đại đã khác rồi, cơ hội của con sắp đến, đừng bỏ cuộc, con nhất định sẽ thành công." 

Sau đó, cô tôi liên lạc với ba, quyết định trở về, trở về để làm những việc lớn lao như cô giáo ấy đã làm.  

Kế hoạch của cô tôi rất thành công, nhưng chị họ tôi vẫn không thể đi học. 

Bởi vì công việc của bác trai là cô tôi đã hứa từ trước, không cần điều kiện. 

Khi cô em họ với đôi mắt đỏ hoe đến cầu xin cô tôi, cô vẫn chỉ nói một câu: "Con phải tự mình vượt ra bước đầu tiên." 

Tôi nghĩ chị ấy sẽ giống tôi, chỉ đơn giản là nói ra bản thân muốn đi học. 

Nhưng chị họ kiên quyết hơn tôi nhiều. 

Trước mặt tất cả mọi người trong xưởng, chị ấy quỳ xuống trước bác trai, vừa khóc vừa cầu xin ông. 

Một người cha không yêu con gái như bác trai, đương nhiên là không quan tâm. Nhưng những người khác giờ đã coi việc con gái đi học là chuyện bình thường, thấy chị họ đáng thương, họ cũng giúp khuyên can.

Cuối cùng, bác trai vẫn chỉ nói một câu: "Cái đứa con gái lỗ vốn này học cái gì, nghe mấy lời vớ vẩn của cô mày, nhà này không cho học."

Đến đây, chị họ mới nhân cơ hội lớn tiếng hét lên: "Lý Tường Phú, ông nghe cho rõ đây, hôm nay ông không cho tôi đi học, sau này ông không còn là cha tôi nữa, tôi lớn lên sẽ không cho ông một đồng nào!"

“Bác trai tôi nhặt một cây gậy và đánh chị ấy đến mặt mày sưng vù, nếu không có người khác can ngăn, suýt nữa ông ấy đã đánh gãy chân chị ấy.

Cô tôi thở dài nói: "Chị họ của con đang tuyên bố rõ ràng, tuyên bố quyết tâm đi học của nó, cũng tuyên bố, nó giống như cô, ghét cha mình. Sau này nó có thành đạt, sẽ không cho nhà bác trai một chút gì tốt đâu."

Chưa đến mấy ngày, cô tôi nắm được điểm yếu trong công việc của bác trai, không cho ông ta tiếp tục làm nữa, trực tiếp nói là cô để ý đến chị họ, thiếu sót này sẽ do chị họ bù đắp, cô sẽ đi miền Nam học nghề làm hạt dưa vị mới.

Bác gái tôi lúc đầu có nghi ngờ, nhưng cô tôi đã tăng lương cho chị họ lên 25 đồng, nói rằng sau này sẽ trực tiếp đưa cho bác gái, gia đình họ từ đó không ai hỏi chị họ đã đi đâu nữa.

Trong nhà xưởng, không ai ghen tị, bác trai nói là đi làm, nhưng thực ra chẳng làm gì nghiêm túc, còn làm ra vẻ uy quyền, bảo với người khác là giúp đỡ công việc để chuồn đi đánh bạc.

Về phần chị họ, chị ấy được đối xử còn tốt hơn tôi. Cô tôi giờ đã giàu hơn, tìm cho chị ấy một trường tiểu học ở trong thành phố.

Tôi đã từng đến thăm, chị ấy là học sinh lớn tuổi nhất trong lớp, thường xuyên bị các bạn nhỏ trêu chọc, nhưng chị ấy chẳng bận tâm chút nào. Mỗi khi hết giờ học, chị ấy lại chạy đến hỏi thầy cô câu hỏi, thành tích ngày càng tốt lên. Sau này không còn ai trêu chọc chị ấy nữa, mọi người đều thân mật gọi chị là "chị gái hỏi bài".

Năm tôi lên thành phố học cấp ba, thương hiệu hạt dưa của cô tôi đã đăng ký độc quyền, cô đi đến vài thành phố lớn, rồi quay về với rất nhiều đơn hàng.

Nhà xưởng chuyển đến mảnh đất trống phía sau làng, xây dựng một nơi rộng hơn, công nhân cũng đến từ nhiều làng lân cận. Cô tôi còn mua một căn nhà ba tầng ở trong thành phố làm mặt tiền.

Nhưng cô ấy lại gặp phải những vấn đề mới.

Cô tôi đã 30 tuổi, vẫn chưa kết hôn, bác gái bắt đầu thúc giục bà ngoại để cô nhận cậu em họ làm con nuôi, chuyện này đã xảy ra không chỉ một lần. Thậm chí mẹ tôi cũng không khỏi động lòng, nói với tôi: "Cô đã từng tuổi này mà tìm một người tốt để kết hôn cũng khó, sau này con và em con phải đối tốt với cô ấy, cố gắng để cô ấy không phải lo lắng khi về già."

Tôi hiểu điều mẹ tôi chưa nói ra, tôi và em trai sẽ tiếp nhận công việc, ít nhất sẽ không như cậu em họ, không quan tâm đến cô.

Nhưng tôi tự tin lắc đầu: "Mẹ, mẹ cứ chờ đi, sau này con cũng có thể kiếm được rất nhiều tiền bằng chính sức mình."

Như Marx đã nói, cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng, nếu lúc đó không có tiền của cô tôi ở phía trước, dân làng làm sao có thể nghe theo cô.

Giờ tôi mới hiểu được điều này, đặt ra mục tiêu, học tốt kiến thức và chính sách ở đại học, tương lai của tôi chắc chắn sẽ có vô vàn khả năng.

May mắn thay, cô tôi đã nhanh chóng tự giải quyết được vấn đề này.

Cô ấy nhờ một người bạn nữ chủ doanh nghiệp giống mình giới thiệu, tìm cho mình một người chồng hiền lành, là chú rể.

Chú rể là một giáo viên đại học, tôi đoán cô tôi hẳn có một hình ảnh lý tưởng về nghề này, hơn nữa chú rể lại vừa nhẹ nhàng vừa lý lẽ. 

Lần đầu tiên đến nhà, chú ấy lịch sự nói: "Thực ra, chăm sóc gia đình không nhất thiết phải là trách nhiệm của phụ nữ, thời gian của tôi linh hoạt hơn, rất phù hợp với công việc này, hơn nữa tôi nấu ăn cũng rất giỏi, hôm nay bữa ăn này tôi sẽ lo." 

Món sườn xào kho tộ hôm đó thật sự rất tuyệt. 

À, đúng rồi, cô tôi ngày xưa cũng đã được cảm động bởi một miếng sườn của cô chủ nhà. 

Với người hợp ý như vậy, họ nhanh chóng kết hôn và có con, cô tôi có một cô con gái riêng của mình. 

Từ đó, mẹ tôi cuối cùng cũng bỏ ý định của mình và bắt đầu sống cuộc sống của gia đình mình.

Năm tôi đậu vào Đại học Chiết Giang, là đại diện của làng, tôi được phóng viên thành phố đến phỏng vấn.

Vì chúng tôi và một vài làng xung quanh có tỷ lệ học sinh lên cao nhất trong thành phố, không phân biệt nam nữ, tất cả học sinh trung học đều tốt nghiệp, một nửa trong số đó tiếp tục học lên cấp ba.

Điều này ở nơi chúng tôi, nơi mà nhiều người còn là nửa mù chữ, quả thật là một điều kỳ diệu. 

Bố mẹ tôi được khen ngợi hết lời vì là phụ huynh của một học sinh xuất sắc, được ca ngợi vì không phân biệt giới tính, đã nuôi dạy được đứa con đầu tiên trong làng đậu vào đại học. 

Mẹ tôi ngượng ngùng nhận hết công lao về mình, nhưng cô tôi đã nhân cơ hội này, mạnh mẽ quảng bá sản phẩm hạt dưa của chúng tôi. Nghe nói sau đó có nhiều công ty cũng bắt chước, thành lập quỹ học bổng cho trẻ em nông thôn. 

Chưa lâu sau khi phỏng vấn, mẹ tôi đã mua hai căn nhà, một cho em trai tôi, một cho tôi. 

"Tiểu Tuyết, cái sổ đỏ này con giữ, cô dượng của con nói bây giờ là thời điểm tốt để mua nhà, mẹ và bố con đều đã mua cho các con rồi. Mua xong rồi, mẹ cũng nói luôn, sau này tiền trong nhà, con và em trai con mỗi người một nửa." 

Mẹ tôi ngồi bối rối trước mặt tôi, chỉnh lại mái tóc ở bên tai rồi tiếp tục nói: "Mẹ cũng không phải muốn biện hộ gì, mấy năm đó đối xử không tốt với con, mẹ thừa nhận, nhưng không phải lúc nào mẹ cũng muốn như vậy." 

Giọng mẹ nghẹn lại, bà nói, khi tôi mới sinh ra hai năm đầu, bà bị bà nội bắt nạt tàn tệ, ba tôi thì quá im lặng, không có ai giúp đỡ bà. Chính cậu tôi đã dẫn người đến nhà gây áp lực cho bà nội, khiến bà phải tiết chế lại. 

Mẹ tôi nói, bà vốn đã không định liên lạc gì với nhà ngoại nữa, bà cũng biết cậu giúp đỡ là để đòi tiền, nhưng thật sự, nếu không có anh em trai trong nhà, phụ nữ sẽ bị đối xử như vậy. 

Rồi bà dần thay đổi, bà cảm thấy phải có con trai để nương tựa, nhất là sau khi chia tài sản, gia đình càng nghèo hơn, bà càng không thể kiểm soát được mình mà càng thiên vị em trai. 

Cả năm khi cô tôi về nhà, bà với ba tôi cũng cãi nhau, bà sợ thêm một người phụ nữ ăn bám trong nhà. 

Bà thở dài một hơi: "Nhưng nhìn cô con, mẹ biết bây giờ mọi thứ đã khác rồi, có con trai hay anh em cũng không quan trọng, phụ nữ có thể tự đứng lên được." 

Nói xong, mẹ tôi nhìn tôi đầy hy vọng, chờ xem tôi sẽ phản ứng thế nào. 

Tôi chỉ cúi đầu nhìn tờ sổ đỏ trong tay, mắt đỏ hoe. 

Tôi luôn biết tôi và chị họ không giống nhau, tôi còn vật lộn nhiều hơn chị ấy. 

Cha mẹ như bác trai và bác gái, chị ấy có thể bỏ đi mà không chút gánh nặng, nhưng tôi thì không thể. Nếu tình yêu có thể đo lường, ba mẹ cho em trai tám phần, còn tôi chỉ được hai phần. 

Hai phần tình yêu này sẽ khiến nhiều cô gái luôn tự răn dạy bản thân, không ngừng dùng tiền và mọi thứ mình có để cố gắng đền đáp gia đình. 

Nhưng thiên vị chính là thiên vị, nếu không biết dừng lại đúng lúc, những cô gái ấy sẽ không bao giờ học được cách yêu bản thân trước, và sẽ mãi không thoát ra khỏi vòng xoáy bi kịch. 

Những năm qua, dù ba mẹ không còn phân biệt đối xử với chúng tôi nữa, tôi vẫn luôn nhắc nhở bản thân trong lòng, đó là vì gia đình chúng tôi giờ có tiền, còn những gì tôi chi tiêu giờ đây đối với họ chẳng là gì. 

Nhưng hôm nay, món quà công bằng lớn lao này khiến vết nứt trong lòng tôi dường như bắt đầu thật sự lành lại. 

Tôi cười và nói với mẹ: "Vậy thì mẹ phải cầm cái loa phóng thanh đi khắp làng, nói với cả làng rằng mẹ là người mẹ công bằng nhất." 

Cái gọi là truyền thống, chẳng phải là những điều mọi người đều làm dần dần biến thành thói quen sao? 

Hôm nay, chuyện con gái trong làng đi học đã trở thành chuyện bình thường, những gia đình như nhà tôi ngày càng nhiều, có lẽ một ngày nào đó, việc chia đều tài sản cũng sẽ trở thành điều bình thường. 

Mọi chuyện luôn tiếp nối nhau, tôi còn chưa đi học thì bà nội tôi đã qua đời trước. 

Bác trai khóc thương hơn ai hết, vì ông không lấy được dù chỉ là hai mươi lăm đồng. 

Mấy năm qua, lương của mọi nhà đều tăng, chỉ riêng nhà ông là không tăng, ông nhìn chúng tôi hai nhà ăn thịt mà gặm răng nghiến lợi, mắt đỏ ngầu. 

Nhưng cái lý do bất hiếu đã không còn hiệu quả nữa, không nói mọi người đều ăn cơm của cô tôi, mà ngay cả những người ông đã làm mất lòng khi còn làm việc, giờ cũng chẳng ai giúp ông. 

Chị tôi vừa thi đỗ vào trung học, cũng xin nghỉ về nhà. Chị ấy đã đủ mười tám tuổi, chuyện học hành giờ có thể tự quyết định, không còn phải sợ bác trai nữa. 

Chị về nhà, tự tin nói rằng sau này, tiền lương của chị, chị sẽ tự giữ để lo cho việc học, không còn đưa một xu nào cho gia đình nữa. 

Dân làng bị chị ấy làm cho bất ngờ, và họ cũng đối xử với con gái nhà mình tốt hơn một chút. 

Tối hôm đó, chị họ tôi thật sự rất phấn khích, kéo tôi và cô thức suốt đêm chờ đón bình minh.

Chị ấy tự tin nói: "Cô ơi, tất cả số tiền này, cháu sẽ trả lại, trả lại gấp nhiều lần."

Cô tôi ừ một tiếng, chỉ về phía xa xa và nói: "Thời đại của bà nội con đã qua rồi, nhìn kìa, mặt trời mọc, ánh sáng rực rỡ quá." 

-Hết-

Câu chuyện Lỗ Ban học nghề

  Câu chuyện Lỗ Ban học nghề Sông Thanh Thủy chảy vòng về phía Đông thành một vụng lớn. trong vụng có một dãy nhà đất gọi là Lỗ Gia Loan. Ở ...