Hiển thị các bài đăng có nhãn Ôn thi thẻ Thẩm định viên về giá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ôn thi thẻ Thẩm định viên về giá. Hiển thị tất cả bài đăng

27/09/2023

Đáp án và đề thi thẻ Thẩm định viên các năm

I. Link tải Đáp án và đề thi thẻ Thẩm định viên về giá các năm (click thẳng vào link)

Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2014

+ Đáp án và Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2015

+ Đáp án và Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2016

Đáp án và Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2017

Đáp án và Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2018

Đáp án và Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2019

Đáp án và Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2022

+ Đề thi thẻ Thẩm định viên về giá năm 2024

+ Tài liệu ôn thi các môn 

II. Các câu hỏi thường gặp:

  • Các bạn chưa biết gì về kỳ thi này và chứng chỉ hành nghề (thẻ Thẩm định viên về giá), cần đọc Thông tư 34/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về thi, cấp, quản lý, thu hồi thẻ Thẩm định viên về giá. 
  • Tham khảo quy định liên quan đến kỳ thi gần nhất (lần thứ 16, năm 2024) tại ĐÂY.  Các câu hỏi liên quan đến đối tượng thi, các môn thi, nội dung thi, hình thức thi, thời gian thi đều được nêu cụ thể.
  • Thông tin về kỳ thi thẩm định viên về giá được công bố ở đâu? 
  • Người dự thi phải trải qua mấy môn thi? 
  • Thời gian thi của các môn quy định thế nào? 
  • Người dự thi trong lần đầu có bắt buộc phải thi tất cả các môn trong cùng một kỳ thi không? 

Việc Tổ chức kỳ thi quy định tại Điều 6 Thông tư 34/2024/TT-BTC:

Điều 6. Các thông báo liên quan đến kỳ thi

1. Bộ Tài chính thông báo về việc tổ chức thi thẩm định viên về giá trước ngày 01 tháng 7 hằng năm, trừ kỳ thi lần đầu tiên được tổ chức theo quy định của Thông tư này hoặc trường hợp bất khả kháng do khẩn cấp, sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh và các trường hợp đặc biệt khác.

2. Trước ngày tổ chức kỳ thi thẩm định viên về giá ít nhất 60 ngày, Hội đồng thi thông báo kế hoạch tổ chức thi, điều kiện dự thi, hồ sơ đăng ký dự thi, thời gian, địa điểm, hình thức thi và các thông tin cần thiết khác có liên quan tới kỳ thi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.

3. Trong thời hạn chậm nhất là 60 ngày kể từ ngày kết thúc môn thi cuối cùng của kỳ thi, Hội đồng thi trình Bộ Tài chính phê duyệt kết quả điểm thi, thông báo điểm thi và thông báo về việc nhận đơn phúc khảo trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính. Trường hợp bất khả kháng do khẩn cấp, sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh và các trường hợp đặc biệt khác, Chủ tịch Hội đồng thi quyết định kéo dài thời gian công bố kết quả thi và thông báo nhận đơn phúc khảo, thời gian kéo dài không quá 30 ngày.

4. Trong thời gian chậm nhất 45 ngày kể từ ngày hết hạn nhận đơn phúc khảo, Hội đồng thi thông báo điểm thi phúc khảo trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính. Trường hợp bất khả kháng do khẩn cấp, sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh và các trường hợp đặc biệt khác, Chủ tịch Hội đồng thi quyết định kéo dài thời gian công bố kết quả thi phúc khảo, thời gian kéo dài không quá 20 ngày

 

Các Nội dung thi, môn thi quy định tại Điều 7 Thông tư 34/2024/TT-BTC như sau:

Điều 7. Nội dung thi, môn thi

1. Các môn thi:

a) Pháp luật áp dụng trong lĩnh vực thẩm định giá, nguyên lý hình thành giá cả thị trường và nguyên lý căn bản về thẩm định giá;

b) Thẩm định giá bất động sản;

c) Thẩm định giá động sản;

d) Phân tích tài chính doanh nghiệp;

đ) Thẩm định giá doanh nghiệp.

2. Người dự thi cấp thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá tài sản cần thi đủ 03 môn thi quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

3. Người dự thi cấp thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp cần thi đủ 05 môn thi quy định tại khoản 1 điều này.

4. Người đã có thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá tài sản, dự thi cấp thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp cần thi đủ 02 môn thi quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này.

5. Nội dung thi các môn quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả phần lý thuyết và phần bài tập quy định tại Phụ lục II kèm theo Thông tư này.

 

Điều 8 Thông tư 34/2024/TT-BTC quy định Hình thức, thời gian thi như sau:

Điều 8. Hình thức thi và thời gian thi

1. Hình thức thi: Thi tự luận hoặc thi trắc nghiệm hoặc thi trắc nghiệm kết hợp với thi tự luận đối với mỗi môn thi.

2. Thời gian làm bài thi các môn thi tối đa 150 phút đối với hình thức thi tự luận, tối đa 90 phút đối với hình thức thi trắc nghiệm; đối với môn thi kết hợp tự luận và trắc nghiệm, thời gian làm bài thi tối đa 120 phút. 

 

Điều 3, 4, 5 Thông tư 34/2024/TT-BTC quy định Hồ sơ, trình tự, chi phí đăng ký dự thi như sau:

Điều 3. Hồ sơ đăng ký dự thi

1. Đối với người chưa có thẻ thẩm định viên về giá, hồ sơ đăng ký dự thi gồm:

a) Phiếu đăng ký dự thi có dán ảnh theo mẫu quy định tại Phụ lục I kèm theo Thông tư này;

b) Bản sao chứng thực chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ thẩm định giá phù hợp với lĩnh vực chuyên môn dự thi do cơ quan, tổ chức có chức năng đào tạo về thẩm định giá cấp, trừ trường hợp có giấy tờ nêu tại điểm c khoản 1 Điều này;

c) Bản sao chứng thực bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên về chuyên ngành giá hoặc thẩm định giá (nếu không có bản sao chứng thực chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ thẩm định giá nêu tại điểm b khoản 1 Điều này). Trong trường hợp bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên không ghi rõ chuyên ngành giá hoặc thẩm định giá thì thí sinh nộp thêm bản sao chứng thực bảng điểm có thể hiện đã học các chuyên ngành trên;

d) Bản sao chứng thực bằng tốt nghiệp đại học trở lên (của chuyên ngành khác với chuyên ngành giá, thẩm định giá), trừ trường hợp có bản sao chứng thực bằng tốt nghiệp đại học trở lên của chuyên ngành giá hoặc thẩm định giá;

đ) 02 (hai) ảnh màu (4x6cm) chụp trong thời gian 06 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ.

2. Đối với người đã có thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá tài sản có nhu cầu thi thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký dự thi gồm:

a) Thành phần hồ sơ quy định tại điểm a, điểm đ Khoản 1 Điều này;

b) Bản sao thẻ thẩm định viên về giá lĩnh vực thẩm định giá tài sản.

Điều 4. Trình tự đăng ký dự thi

1. Thí sinh lập Phiếu đăng ký dự thi trực tuyến tại Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính đính kèm bản chụp/scan các loại hồ sơ quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 3 Thông tư này và nộp chi phí dự thi theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này.

Trường hợp không đăng ký dự thi theo hình thức trực tuyến, thí sinh nộp trực tiếp hồ sơ đăng ký dự thi quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 3 Thông tư này tại Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) hoặc đơn vị theo phân cấp của Bộ Tài chính và nộp chi phí dự thi theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư này.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc nhận hồ sơ, trên cơ sở kết quả rà soát điều kiện dự thi của Hội đồng thi thẩm định viên về giá (sau đây gọi là Hội đồng thi), Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) hoặc đơn vị theo phân cấp của Bộ Tài chính thông báo cho các thí sinh nộp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc có nội dung kê khai chưa chính xác; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo của Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) hoặc đơn vị theo phân cấp của Bộ Tài chính, thí sinh phải hoàn thiện hồ sơ đúng hạn.

3. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày kết thúc nhận hồ sơ, Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) hoặc đơn vị theo phân cấp của Bộ Tài chính thông báo các thí sinh đủ điều kiện dự thi thông qua Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.

Điều 5. Chi phí dự thi

1. Người dự thi phải nộp chi phí dự thi theo thông báo của Hội đồng thi. Chi phí dự thi được nộp bằng tiền mặt hoặc thông qua thanh toán điện tử theo hướng dẫn của Hội đồng thi. Chi phí dự thi đã nộp không hoàn trả cho người đăng ký dự thi trong mọi trường hợp.

2. Hội đồng thi căn cứ số lượng thí sinh đăng ký dự thi của kỳ thi lần trước liền kề để xây dựng dự toán chi phí tổ chức thi theo nguyên tắc lấy thu bù chi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp số thu lớn hơn số chi thì số chênh lệch thu lớn hơn chi được nộp vào ngân sách nhà nước. 

12/05/2023

Phân loại thẩm định viên về giá: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam (Kỳ 2)

Nguồn: Phân loại thẩm định viên về giá: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam (vneconomy.vn)

Dự thảo Luật Giá sửa đổi dự kiến được trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 5/2023, có bước tiến quan trọng là phân loại thẩm định viên theo lĩnh vực nhưng vẫn tồn tại một số bất cập. Để khắc phục vấn đề này, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia khác trên thế giới…

Phân loại, nâng cao chất lượng thẩm định viên về giá góp phần ngăn chặn tiêu cực.
Phân loại, nâng cao chất lượng thẩm định viên về giá góp phần ngăn chặn tiêu cực.

Nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định giá, ngăn ngừa tiêu cực, Dự thảo Luật Giá (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến thẩm định viên về giá. Đáng chú ý là việc cấp thẻ thẩm định viên về giá theo lĩnh vực thẩm định giá tài sản và thẩm định giá doanh nghiệp.

PHÂN LOẠI THẨM ĐỊNH VIÊN Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á

Trong khối ASEAN hiện nay, ngoại trừ Indonesia phân loại thẩm định viên theo loại hình tài sản (thẩm định giá tài sản cá nhân, thẩm định giá bất động sản và thẩm định giá doanh nghiệp), hầu hết các quốc gia đều không thực hiện phân loại theo loại hình tài sản mà phân loại theo trình độ thẩm định viên. Đồng thời trong khối ASEAN, ngoài Indonesia, không quốc gia nào cấp thẻ hoặc chứng chỉ thẩm định viên về giá riêng cho lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp.

Nguồn: Overview Valuation Regulatory based on Questionnaire, 24th AVA Congress 2022  
Nguồn: Overview Valuation Regulatory based on Questionnaire, 24th AVA Congress 2022 

Theo khoản 1, 2 và 4, Điều 6 Quy định số 56/2017 (Permenkeu 56/2017) của Bộ trưởng Bộ Tài chính Indonesia sửa đổi Quy định số 101/PMK.01/2014 về Thẩm định viên công (Penilai Publik), giấy phép Thẩm định viên công được phân loại theo lĩnh vực gồm: 

  • Thẩm định giá tài sản đơn giản (Penilaian Properti Sederhana), 
  • Thẩm định giá tài sản (Penilaian Properti), 
  • Thẩm định giá doanh nghiệp (Penilaian Bisnis)
  • Thẩm định giá tài sản cá nhân (Penilaian Personal Properti).

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, thẩm định viên về giá tài sản (Penilaian Properti) của Indonesia không phải thực hiện định giá tất cả các loại “tài sản” (theo nghĩa tài sản được quy định trong Luật Dân sự Việt Nam) mà chỉ thẩm định giá đất đai và công trình trên đất, các tài sản gắn liền với đất; máy móc thiết bị (thiết bị y tế, thiết bị quân sự, thiết bị nội thất, thông tin liên lạc,…), nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và khai thác mỏ (được nêu tại Quy định số 125/PMK.01/2008 ngày 08 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Indonesia).

Nhìn ra ngoài khối ASEAN, Ấn Độ cũng thực hiện phân loại thẩm định viên về giá theo 3 loại hình tài sản: 

  • Đất đai và công trình xây dựng (Land and Building); 
  • Nhà máy và máy móc thiết bị (Plant and Machinery); 
  • Chứng khoán hoặc tài sản tài chính (Securities or Financial Assets).

Ủy ban IBBI của Ấn Độ đưa ra các tiêu chuẩn rất cụ thể về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm đối với thẩm định viên từng loại hình tài sản.

Phân loại thẩm định viên về giá: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam - Ảnh 1

Cách phân loại của Ấn Độ thể hiện sự chuyên môn hóa cao hơn Indonesia vì để thực hiện thẩm định giá máy móc thiết bị đòi hỏi sự am hiểu  rất sâu sắc về kỹ thuật và công nghệ và cập nhật thường xuyên. Thay vì thẩm định viên về giá tài sản thực hiện thẩm định giá tất cả các loại tài sản từ bất động sản cho tới động sản thì Ấn Độ thực hiện phân thành thẩm định viên về giá đối với đất đai và công trình xây dựng; nhà máy và máy móc thiết bị.

NHÌN RA CÁC QUỐC GIA CÓ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN

Tại các thị trường phát triển, việc phân loại thẩm định viên về giá được chuyên môn hóa cao hơn và trao quyền nhiều hơn cho các tổ chức độc lập.

Chẳng hạn như ở Canada, mỗi loại hình tài sản sẽ được cấp chứng nhận riêng bởi Viện Thẩm định giá Canada (AIC) hoặc Hiệp hội thẩm định viên bất động sản quốc gia Canada (CNAREA).

Quy định cấp giấy phép sẽ khác nhau tùy mỗi bang, chẳng hạn Quebec quy định thẩm định viên phải được AIC công nhận. AIC phân loại thẩm định viên thành (i) CRA-Canadian Residential Appraiser (thực hiện thẩm định giá nhà phố, nhà liền kề, chung cư, lô đất trống, đất ở) và (ii) AACI-Accredited Appraiser Canadian Institute (thẩm định giá bất kỳ loại tài sản nào, gồm đất đai, tài sản nông nghiệp, máy móc thiết bị, tòa nhà thương mại và dân cư). Ngoài ra, còn có các chứng nhận chuyên môn khác như chứng nhận CPPA (Canadian Personal Property Appraiser) dành cho các thẩm định viên thực hiện xác định giá trị các tài sản cá nhân như trang sức, đồ thủ công, đồ cổ, nghệ thuật, và các vật dụng gia đình; chứng nhận CBV (Chartered Business Valuator) của CBV Institute (The Canadian Institute of Chartered Business Valuators) cấp cho các chuyên gia trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp.

Tại Hoa Kỳ, thẩm định viên có thể lựa chọn chuyên về các lĩnh vực như:

  • Thẩm định giá BĐS (Real Property Appraisal) như nhà ở dân cư, thương mại hoặc nông nghiệp
  • Thẩm định giá tài sản cá nhân (Personal Property Appraisal) bao gồm các tài sản cá nhân như đồ mỹ thuật, nghệ thuật, đồ trang trí, đồ cổ,  đồ trang sức, máy móc thiết bị. 
  • Thẩm định giá doanh nghiệp (Business Valuation) bao gồm các tài sản hữu hình và vô hình, từ thiết bị đến thương hiệu hoặc logo của doanh nghiệp.
  • Thẩm định giá hàng loạt (Mass Appraisal) bao gồm định giá nhiều loại BĐS hoặc tài sản cá nhân bằng cách sử dụng các công thức và mô hình thống kê (được chứng nhận bởi International Association of Assessing Officers).

Đối với dịch vụ thẩm định giá bất động sản, việc cấp giấy phép tùy theo quy định của từng tiểu bang/bang và các tổ chức có thẩm quyền. FIRREA (Đạo luật cải cách, phục hồi và thực thi các tổ chức tài chính năm 1989) thiết lập một hệ thống quy định về thẩm định viên bất động sản liên quan đến Chính phủ liên bang, các tiểu bang và tổ chức TAF (The Appraisal Foundation – một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận tư nhân).

Mỗi tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ có một cơ quan quản lý thẩm định viên bất động sản chịu trách nhiệm cấp phép và chứng nhận thẩm định viên bất động sản và giám sát các hoạt động liên quan đến thẩm định giá của họ, theo yêu cầu của luật. Liên bang. Hội đồng Trình độ Thẩm định viên (AQB) thiết lập các tiêu chí trình độ chuyên môn đối với thẩm định viên bất động sản.

Có 4 phân loại thẩm định viên liên bang gồm (cấp độ tăng dần).

Nguồn: Tổng hợp từ Cục Thống kê lao động Hoa Kỳ, TAF, AQB.
Nguồn: Tổng hợp từ Cục Thống kê lao động Hoa Kỳ, TAF, AQB.

Không giống như thẩm định viên bất động sản, đối với lĩnh vực thẩm định giá giá trị doanh nghiệp (và cả thẩm định viên tài sản cá nhân) không bắt buộc phải có giấy phép hành nghề. Ở các tiểu bang không yêu cầu giấy phép đối với thẩm định viên, nhà tuyển dụng có thể yêu cầu ứng viên hoàn thành các khóa học thẩm định giá cơ bản, có chứng nhận chuyên môn và đáp ứng các yêu cầu về thời gian làm việc.

Tại Hoa Kỳ, chứng nhận chuyên môn lĩnh vực này được cấp bởi 5 tổ chức chính:

  • Hiệp hội Thẩm định viên Hoa Kỳ (The American Society of Appraisers ASA) cấp chứng nhận Accredited Senior Appraiser (ASA).
  • Viện CFA (CFAI) cấp chứng nhận Chartered Financial Analyst (CFA).
  • Viện thẩm định giá doanh nghiệp (IBA) cấp chứng nhận Certified Business Appraiser (CBA).
  • Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) cấp chứng nhận Accredited In Business Valuation (ABV).
  • Hiệp hội các nhà phân tích định giá được chứng nhận quốc gia (NACVA) cấp chứng nhận Certified Valuation Analyst (CVA).

HÀM Ý CHO VIỆT NAM 

Từ kinh nghiệm quốc tế cũng như thực tiễn ở Việt Nam, ban soạn thảo Luật Giá sửa đổi có thể cân nhắc 3 hướng sửa đổi quy định về phân loại thẩm định viên về giá. 

Phương án 1: Nếu vận dụng theo mô hình Indonesia và giữ nguyên cách phân loại “thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản” và thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp”, ban soạn thảo cần quy định rõ lĩnh vực thẩm định giá tài sản gồm những loại tài sản nào, thay vì hiểu nghĩa “tài sản” theo Luật Dân sự 2015 như hiện nay. Phương án này vẫn có hạn chế là ngay cả khi không tính giấy tờ có giá và quyền tài sản thì tài sản bao gồm động sản và bất động sản hiện có và hình thành trong tương lai. Việc yêu cầu thẩm định viên thông thạo cả kỹ thuật (máy móc thiết bị, nhà máy, công nghệ) lẫn bất động sản, xây dựng sẽ không đảm bảo mục tiêu chuyên môn hóa nghiệp vụ. 

Phương án 2: Chỉ quy định bắt buộc phải có thẻ thẩm định viên về giá của Bộ Tài chính cấp đối với hoạt động thẩm định giá bất động sản và không bắt buộc đối với thẩm định giá doanh nghiệp nhưng sẽ có những yêu cầu về bằng cấp, trình độ chuyên môn, số năm kinh nghiệm và các chứng chỉ quốc tế được yêu cầu (chẳng hạn yêu cầu phải có chứng chỉ CFA). Trong đó, thẻ thẩm định viên về giá bất động sản sẽ được phân cấp theo trình độ tăng dần. Đây là cách làm của các quốc gia phát triển. 

Phương án 3, nếu cho rằng cách phân loại của các nước phát triển (Mỹ, Canada, Anh,…) chưa phù hợp với trình độ thực tế của các tổ chức nghiên cứu đào tạo và trình độ thẩm định viên hiện nay, thì phù hợp nhất là vận dụng cách phân loại của Ấn Độ. Theo đó thẩm định viên có thể phân loại theo 3 lĩnh vực: thẩm định giá bất động sản; thẩm định giá máy móc thiết bị và phương tiện vận tải; thẩm định giá doanh nghiệp, chứng khoán hoặc các tài sản tài chính.

Các yêu cầu về bằng cấp, trình độ có thể tham khảo cách làm của Ấn Độ và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế và mặt bằng nhân sự ngành thẩm định giá ở Việt Nam. Điều này sẽ giúp tăng tính chuyên môn hóa của thẩm định viên đối với loại hình tài sản, hướng tới sự chuyên nghiệp.

Những điểm chưa hợp lý trong phân loại thẩm định viên về giá tại Dự thảo Luật Giá sửa đổi (Kỳ 1)

 

Nguồn: Những điểm chưa hợp lý trong phân loại thẩm định viên về giá tại Dự thảo Luật Giá sửa đổi - Tạp chí Kinh tế Việt Nam (vneconomy.vn)

Mặc dù phân loại thẩm định viên theo lĩnh vực thẩm định giá hay loại hình tài sản là một bước tiến bộ và cũng là xu thế tất yếu; tuy nhiên, việc phân loại theo lĩnh vực thẩm định giá tài sản và thẩm định giá doanh nghiệp như tại Dự thảo Luật Giá sửa đổi vẫn có những điểm chưa hợp lý và tiềm ẩn sự chồng chéo, bất cập sau này...

Thẩm định giá là một lĩnh vực liên ngành.
Thẩm định giá là một lĩnh vực liên ngành.

Tại Dự thảo Luật Giá (sửa đổi), Bộ Tài chính đã bổ sung nhiều quy định mới trong việc quản lý lĩnh vực thẩm định giá nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định giá, ngăn ngừa tiêu cực. Đáng chú ý là việc cấp thẻ thẩm định viên về giá theo lĩnh vực thẩm định giá tài sản và thẩm định giá doanh nghiệp. Đây là một bước tiến trong Luật Giá sửa đổi. Tuy nhiên, còn những điểm chưa phù hợp trong việc phân loại thẩm định viên theo lĩnh vực tại dự luật.

PHÂN LOẠI THẨM ĐỊNH VIÊN THEO LOẠI HÌNH TÀI SẢN ĐỊNH GIÁ

Hiện nay, tại Việt Nam, người được cấp thẻ thẩm định viên về giá có thể tham gia thẩm định giá mọi tài sản ở các lĩnh vực khác nhau, từ đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng, mỏ quặng đến các động sản như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, phương tiện chuyên dụng, hàng hóa, cây cối, tài sản tài chính, tác phẩm nghệ thuật, tài sản vô hình, doanh nghiệp… 

Để được cấp thẻ Thẩm định viên về giá của Bộ Tài chính, người hành nghề sẽ phải trải qua kỳ thi sát hạch gồm 1 môn ngoại ngữ và 5 môn chuyên ngành: (i) pháp luật áp dụng trong lĩnh vực giá và thẩm định giá; (ii) nguyên lý hình thành giá cả thị trường và nguyên lý căn bản về thẩm định giá; (iii) thẩm định giá bất động sản; (iv) thẩm định giá máy, thiết bị; (v) thẩm định giá doanh nghiệp.

Vì thẩm định giá là một lĩnh vực liên ngành, thẩm định viên về giá cần phải được trang bị một lượng kiến thức rất rộng. Trong khi đó, việc dàn trải quá nhiều loại hình tài sản của nhiều lĩnh vực khác nhau (trong đó có những tài sản đặc thù) khiến thẩm định viên thiếu đi sự chuyên sâu cần thiết của một người làm lĩnh vực tư vấn.

Theo ông Phạm Văn Bình, Trưởng phòng Thẩm định giá, Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính – đơn vị chủ trì soạn thảo Luật Giá sửa đổi, số liệu thống kê cho thấy chỉ có khoảng 20-30% thẩm định viên về giá tham gia thẩm định giá doanh nghiệp, tài sản tài chính, còn 70-80% chủ yếu thực hiện thẩm định giá bất động sản và động sản. Trong khi đó, việc thẩm định giá giá trị doanh nghiệp và tài sản tài chính đòi hỏi người hành nghề phải có kiến thức rất sâu về kế toán và phân tích tài chính.

Hiện nay, nhiều thẩm định viên về giá mặc dù không bao giờ làm thẩm định giá doanh nghiệp nhưng vẫn phải học đầy đủ và thi môn thẩm định giá doanh nghiệp; đồng thời, phải tham gia học cập nhật kiến thức bắt buộc hàng năm đối với cả nội dung này. Do vậy, việc chuyên môn hóa hoạt động của thẩm định viên theo lĩnh vực như Dự thảo Luật Giá sửa đổi được kỳ vọng sẽ giúp thẩm định viên tập trung bồi dưỡng những kiến thức kỹ năng chuyên sâu và giảm tải những môn học không thuộc định hướng; từ đó, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định giá theo hướng chuyên nghiệp.

NHỮNG ĐIỂM CHƯA HỢP LÝ

Mặc dù phân loại thẩm định viên theo lĩnh vực thẩm định giá hay loại hình tài sản là một bước tiến bộ và cũng là xu thế tất yếu; tuy nhiên, việc phân loại theo lĩnh vực thẩm định giá tài sản và thẩm định giá doanh nghiệp như tại dự luật vẫn có những điểm chưa hợp lý và tiềm ẩn sự chồng chéo, bất cập sau này.

Trong dự thảo Luật Giá hiện nay chưa quy định rõ thế nào là “thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản” và thế nào là “thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp”. Để hiểu được “lĩnh vực thẩm định giá tài sản” gồm những nội dung nào, trước hết cần phải hiểu khái niệm về đối tượng thẩm định giá – “tài sản”.

Mặc dù Dự thảo Luật Giá không đưa ra định nghĩa tài sản, tuy nhiên Bộ Tài chính cũng đã đưa ra ý kiến giải trình lý do không giải thích từ ngữ “tài sản” vì khái niệm tài sản đã được quy định tại Bộ Luật dân sự.

Theo Điều 105 Luật Dân sự 2015, tài sản là “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án Nhân dân tối cao đã đưa ra hướng dẫn như sau:

“Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, thì giấy tờ có giá bao gồm:

a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;

b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;

c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009;

d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);

đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”…

Như vậy, từ những căn cứ pháp lý trên, người được cấp thẻ thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản sẽ thực hiện thẩm định giá tài sản, bao gồm cả tài sản là giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư. Đây là những tài sản tài chính và đòi hỏi thẩm định viên phải có kiến thức tài chính chuyên sâu mới có thể thẩm định giá các “tài sản” này.

Ngay cả khi không tính tới các tài sản là “giấy tờ có giá”, thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản cũng sẽ phải thẩm định giá bất động sản bao gồm bất động sản là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Để thực hiện thẩm định giá bất động sản hiện có, chẳng hạn như trung tâm thương mại, dự án khu đô thị phức hợp, các dự án bất động sản cao cấp, dự án bất động sản công nghiệp và các dự án bất động sản hình thành trong tương lai khác, thẩm định viên cũng phải được trang bị những kiến thức hết sức chuyên sâu về phân tích tài chính không thua gì các thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp.

Như vậy, nếu khái niệm “tài sản” được hiểu theo nghĩa được nêu tại Luật Dân sự thì để đảm bảo chất lượng dịch vụ, thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản vẫn phải có sự chuyên sâu về phân tích tài chính và phải học, thi đầy đủ các môn tài chính không kém gì thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp.

Ở chiều ngược lại, để thẩm định giá doanh nghiệp, thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp cũng sẽ phải học đầy đủ kiến thức chuyên sâu về thẩm định giá bất động sản và động sản như thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản.

Theo Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 12, ba cách tiếp cận áp dụng trong thẩm định giá doanh nghiệp bao gồm: cách tiếp cận từ thị trường, cách tiếp cận từ chi phí và cách tiếp cận từ thu nhập. Cách tiếp cận chi phí dựa trên quan điểm cho rằng giá trị doanh nghiệp bằng tổng giá trị các tài sản của doanh nghiệp. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo cách tiếp cận chi phí được sử dụng là phương pháp tài sản - đây thường được coi là phương pháp an toàn nhất, là phương pháp quan trọng để xác định giới hạn dưới của giá trị doanh nghiệp.

Tài sản của doanh nghiệp thông thường sẽ bao gồm động sản (máy móc thiết bị, phương tiện, công cụ, hàng hóa,…) và bất động sản (đất đai, nhà xưởng…). Để thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp bằng phương pháp tài sản, thẩm định viên thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá doanh nghiệp vẫn phải thực hiện ước tính giá trị tài sản là động sản và bất động sản giống như thẩm định viên về giá trong lĩnh vực thẩm định giá tài sản.

Do đó, việc phân loại thẩm định viên về giá theo hai lĩnh vực: thẩm định giá tài sản và thẩm định giá doanh nghiệp như đề xuất tại Dự thảo Luật Giá sửa đổi có thể không giúp đạt được mục tiêu chuyên môn hóa nghiệp vụ của thẩm định viên.


Cái giá của một tấn không khí

Tác giả: Cẩm Chi - ESG IN PRACTICE Sáng 29 tháng 6, trên bảng điện tử của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, giữa những mã cổ phiếu quen thuộc...