Hiển thị các bài đăng có nhãn Thẩm định giá doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thẩm định giá doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

18/10/2025

Ước tính tỷ suất sinh lời trung bình dài hạn

Một cách “cân bằng” giữa trung bình cộng và trung bình nhân khi ước tính tỷ suất sinh lời trung bình dài hạn 📈

Chào các bạn độc giả 👋👋, cảm ơn những ai đang theo dõi và ủng hộ blog này của tôi. Dạo gần đây tập trung cho các nội dung liên quan tới định giá các tài sản khó nên tôi ít viết bài mới. Tự phê bình bản thân đáng trách, đáng trách. 

Hôm trước tôi có khởi xướng một thảo luận group nhóm  về việc "ước tính tỷ suất sinh lời trung bình dài hạn của thị trường". Xuất phát từ thực tế rằng những người đang hành nghề (và cả không hành nghề) thẩm định giá ở Việt Nam đang áp dụng các quy định pháp luật (hoặc mặc định theo thông lệ) là sử dụng trung bình cộng giản đơn của Rm (tỷ suất sinh lời thị trường) các năm trong quá khứ để ước tính Rm trong mô hình CAPM (để ước tính chi phí vốn chủ sở hữu). 

Nhưng như tôi vẫn nói với các học viên của mình từ rất lâu. Cho dù các bạn sử dụng phương pháp tính trung bình cộng (arithmetic mean) hay trung bình nhân (geometric mean) đều có hạn chế. Bạn nào học tới tuần 3 của lớp Tài chính cơ bản chắc chắn đã phải học rất kỹ về ước tính tỷ suất sinh lời trung bình - một nội dung tưởng rất dễ nếu chỉ nhìn vào tiêu đề. Chẳng hạn, khi ước tính tỷ suất sinh lời trung bình dài hạn từ dữ liệu ngắn hạn, rất nhiều nhà đầu tư và phân tích thường sử dụng trung bình cộng. Nhưng ít người để ý tới một cái “bẫy thống kê” khá phổ biến 👇

📉 Trung bình cộng có xu hướng đánh giá cao tỷ suất sinh lời trung bình dài hạn trong tương lai. Nguyên nhân: sai số chọn mẫu (sampling variation) và ghép lãi không đối xứng, do tỷ suất sinh lời phân phối lệch xiên trong thực tế. Biến động mẫu dương (positive sampling variation) ghép lãi với nhau tạo ra sai số lớn hơn biến động âm (negative variation).

👉 Ngược lại, nếu sử dụng Trung bình nhân sẽ phản ánh tốt hơn tỷ suất sinh lời thực tế quá khứ hay hiệu quả đầu tư trong quá khứ do có tính tới lũy tích qua thời gian. Nhưng lại có thể đánh giá quá thấp tỷ suất sinh lời trung bình trong tương lai.

Vậy giải pháp nào để dung hòa hai cực này?
✅ Jacquier – Kane – Marcus (2003) đề xuất Công thức tính trung bình trọng số giữa trung bình nhân và trung bình cộng:

Forecast return=Geometric mean×xy+Arithmetic mean×y−xy\text{Forecast return} = \text{Geometric mean} \times \frac{x}{y} + \text{Arithmetic mean} \times \frac{y - x}{y}

Trong đó:

  • Geometric mean = Trung bình nhân của tỷ suất lợi nhuận trong quá khứ.

  • Arithmetic mean = Trung bình cộng của tỷ suất lợi nhuận trong quá khứ.

  • x = độ dài khoảng thời gian dự báo (forecast horizon).

  • y = độ dài giai đoạn ước tính trong quá khứ (estimation period).

📚 Nguồn: Eric Jacquirer, Alex Kane, Alan J. Marcus, “Geometric or Arithmetric Means: A Reconsideration”, Financial Analysis Journal, 2003.


📌 Ví dụ: Giả sử bạn có dữ liệu tỷ suất sinh lời thị trường 80 năm quá khứ và muốn dự báo tỷ suất sinh lời thị trường trung bình cho 20 năm tới. Áp dụng công thức:

Tỷ suất sinh lời dự baˊo=Geometric mean×2080+Arithmetic mean×80−2080\text{Dự báo} = \text{Geometric mean} \times \frac{20}{80} + \text{Arithmetic mean} \times \frac{80 - 20}{80}

➡️ Hàm ý ở đây là trung bình cộng vẫn ảnh hưởng phần lớn (chiếm trọng số cao) trong kết quả cuối cùng, nhưng trung bình nhân sẽ đóng vai trò “neo” để tránh việc dự báo bị thổi phồng bởi biến động ngắn hạn.


🎯 Lợi ích của cách tiếp cận này:

  • Hạn chế sai số do biến động dương không đối xứng.

  • Tránh được việc ước lượng tỷ suất trung bình dài hạn quá thấp như khi chỉ dùng trung bình nhân.

Khi đi làm thực tế, các bạn vẫn phải làm theo văn bản pháp luật. Nhưng tôi đề xuất phương pháp này vì nó sẽ hữu ích hơn với những ai đang làm trong lĩnh vực tài chính, thẩm định giá mà mong muốn cải thiện mô hình của mình tối đa có thể. 

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ.

22/06/2024

Vốn lưu động và Vốn lưu động ròng

 "Vốn lưu động (Working Capital) là gì và Vốn lưu động ròng/Vốn lưu động thuần (Net Working Capital) là gì ?"

Trên là câu hỏi tôi thường nêu ra trong lớp để thảo luận, và gần nhất là đăng trên Group Tôi học Thẩm định giá. Mục đích không phải để phân định đúng sai, tôi muốn nghe góc nhìn của học viên cũng như những gì mọi người được biết, hoặc từng được đọc. Đối với tôi, thuật ngữ bản thân nó không có đúng sai. Thuật ngữ là những quy ước chung về cách gọi tên, để giúp mọi người xác nhận rằng khi nói tới "thuật ngữ" thì đều hiểu theo cùng một cách và nhìn về cùng một hướng. 

Để tránh có nhiều "phương ngữ", nhiều tên gọi cho cùng một thứ, người ta cần xây dựng 1 thuật ngữ chung. Điều gì xảy ra nếu có quá nhiều "thuật ngữ" cùng chỉ 1 thứ (hoặc không chắc rằng nó có phải đang nói về cùng 1 thứ hay không) ? Câu hỏi này các bạn tự trả lời và có thể chia sẻ câu trả lời của mình. Tôi chỉ xin dẫn ra những "phương ngữ" ở Việt Nam. cùng ám chỉ một thứ là Vốn lưu động.

Chuyên đề Tài chính, Tài liệu Ôn thi CPA năm 2023 (Bộ Tài chính)
Vốn lưu động = vốn ngắn hạn =  vốn luân chuyển = vốn lưu chuyển
vốn luân chuyển thuần = nguồn vốn lưu động thường xuyên



Trong Đề thi CPA môn Tài chính năm 2022, có yêu cầu tính "Vốn lưu động" lẫn "Vốn lưu động ròng" ?

Không chỉ trong kỳ thi CPA của Bộ Tài chính, mà kể cả trong các thông tư của Bộ Tài chính soạn thảo về tiêu chuẩn thẩm định giá số 12 về thẩm định giá doanh nghiệp, cũng sử dụng lúc thì vốn lưu động, lúc thì vốn luân chuyển thuần, và còn đặt tên cho vốn lưu động không gồm tài sản phi hoạt động ngắn hạn là vốn hoạt động thuần (?!)
Có những cuốn sách tài chính cũng viết rất sai, "Vốn lưu động là tất cả tài sản ngắn hạn", đơn cử như cuốn sách Quản trị Tài chính dưới đây, khiến nhiều người học hiểu lầm. 
Liệu có hợp lý khi sách nói vốn lưu động = tất cả tài sản ngắn hạn ? 
Thực ra Vốn lưu động (Working Capital) và Vốn lưu động ròng/thuần (Net Working Capital) là cái gì ? Nó là một thôi à, là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Hàm ý ở đây là Tài sản ngắn hạn (current assets) được tài trợ bởi 2 nguồn là Vốn lưu động (working capital) và Nợ ngắn hạn (current liabilities). Tôi trích đoạn từ cuốn BMA nổi tiếng bao gồm cả số trang. Bạn nào không biết thì tra google nhé. Đây là giáo trình tài chính doanh nghiệp chính thống của nhiều trường ĐH lớn của Hoa Kỳ, trong đó có MIT nên tôi miễn bàn về độ chính thống của nó. Các bạn có thể tìm thêm sách Tài chính Doanh nghiệp ứng dụng hoặc Định giá đầu tư của GS Damodaran (NYU) cũng tương tự. 


Ngoài ra các bạn có thể google các nguồn không chính thống cũng nhiều, chẳng hạn Investopia tại link dưới đây, họ cũng viết rõ "Working capital, also known as net working capital (NWC)". Như đã nói, bài viết này không nhằm phân định đúng sai, tuy nhiên đúng hay sai thì bạn đọc cũng tự cảm nhận được rồi. 

Hoặc trang web corporatefinanceinstitute.com của CFI cũng đưa ra cách tính Working Capital = Current Assets – Current Liabilities. 

Trang web chuyên kế toán (How to calculate working capital — AccountingTools) cũng tương tự: "Working capital is calculated by subtracting current liabilities from current assets". Vì vậy đừng nói rằng kế toán tính Working capital khác phân tích tài chính, khác quản trị doanh nghiệp, khác định giá. Nghe cùn lắm.



Tôi nghĩ các bạn đọc sách dịch cũng tốt, nhưng phụ thuộc vào nó vừa phải thôi và đừng coi như chân lý. Một ví dụ về cuốn truyện dịch của NXB Kim Đồng, tuổi thơ của thế hệ 8x-9x. Rất nhiều người hiểu câu chuyện này theo cách dịch của NXB Kim Đồng nhưng thực ra lại khác xa truyện gốc.



-----

P/S: Vì có bạn đọc phản biện và cop nhặt 1 link của NYU và nói rằng working capital và net working capital là khác nhau (?!). Tôi lại mất thời gian nhặt nội dung trong từng sách ra cho bạn thấy.

Sách Applied Corporate Finance (Damodaran) trang 169, Damodaran viết "Accountants define working capital as the difference between current assets (such as inventory and accounts receivable) and current liabilities (such as accounts payable and taxes payable)"

Trang 180, Damodaran tính Change in Working Capital để tính ra FCFF, chính là chỉ tiêu "chênh lệch vốn lưu động ròng/chênh lệch vốn hoạt động thuần" trong tiêu chuẩn TĐG VN số 12 (và là Chuẩn mực TĐG Việt Nam về TĐG Doanh nghiệp) và cách tính Working capital của Damodaran và cách tính Vốn lưu động ròng của Việt Nam đều là 1.. Sách nào ông cũng tính như vậy, tôi ko mất công search từng sách cho các bạn được.

Sách Investment Valuation - cuốn kinh điển của Damodaran về định giá, trang 49 có viết Net working capital = Current assets – Current liabilities.

Nhưng cũng cuốn sách này, trang 264 Damodaran viết "Working capital is usually defined to be the difference between current assets and current liabilities"
Đây cũng chính là công thức Net working capital. Các bạn sẽ thấy điều tương tự trong các sách khác của Damodaran gồm The little book of valuation, The darkside of valuation, Damodaran on valuation,...Tôi không muốn mất công ngồi nhặt lại vì một vấn đề ai cũng biết này.
Vì vậy như tôi nói ở trên, Net working capital và Working capital là một. 

Một cuốn sách khác tôi hay đọc là cuốn Investment (thường được gọi là sách BKM), đây cũng là cuốn sách rất nổi tiếng được dạy trong các Đại học hàng đầu về tài chính. Họ cũng tính Change in Working capital bao gồm cả "increase in other current liabilities" (vui lòng đừng cố suy diễn trước khi thử nháp ra làm ví dụ trong sách đó để hiểu).
Trang 617

Về công thức FCFF, tại trang 595, BKM viết FCFF phải trừ đi Increase in Net working capital, trong khi ở trên tôi đã show hình ảnh Damodaran viết là cộng change in Working capital. Công thức tính NWC và WC là như nhau.

Sách Corporate Finance tái bản lần thứ 12 của các tác giả A.Ross - Westerfield - Jaffe - Jordan. Trang 722, khi tính Net cash flows, họ trừ đi Working Capital (bôi vàng) và chính là hàng thứ (3) trong bảng tính (Increase in Working capital)

Tôi không tìm thấy đoạn nào nói Working Capital là "short-term assets and its short-term liabilities" trong cuốn này cả. 



CÁC TỔ CHỨC NGHỀ NGHIỆP

Trang web ACCA viết: "Vốn lưu động được định nghĩa là tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn (It is defined as current assets less current liabilities...)"
 

Trang web của Viện CFA viết: "Working capital (also called net working capital) is defined simply as current assets minus current liabilities: (Net) Working capital = Current assets – Current liabilities" 

Trang Kaplan: Working capital is the capital available for conducting the day-to-day operations of an organisation; normally the excess of current assets over current liabilities.


PwC - Công ty kiểm toán thuộc nhóm big4: "Working capital is commonly defined as current assets less current liabilities"

Deloitte - Công ty kiểm toán thuộc nhóm big4 cũng viết "working capital is the difference between a company's current assets (e.g., cash, accounts receivable, inventory) and its current liabilities (e.g., accounts payable, short-term debt)."
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU

Tài liệu môn học của MIT - trường ĐH top 1 của Mỹ. Vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn. 

Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Business School)


Theo U.S. GAAP (Generally accepted accounting principles), working capital cũng bằng tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn. Dưới đây là một vài dẫn chứng. 
Nguồn từ FASB (Financial Accounting Standard Board - Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính), là tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ, trong đó có US. GAAP là nguyên tắc, quy tắc, hướng dẫn kế toán. Tra cứu thuật ngữ Working capital cho kết quả "Working capital (also called net working capital) is represented by the excess of current assets over current liabilities and identifies the relatively liquid portion of total entity capital that constitutes a margin or buffer for meeting obligations within the ordinary operating cycle of the entity."

Trong tài liệu khác, FASB viết "Working capital, sometimes called net working capital, is represented by the excess of current assets over current liabilities...." 


Các nguồn khác cũng thể hiện tương tự:
Under Generally Accepted Accounting Principles ("GAAP"), the concept of "working capital" is simply the sum of current assets over current liabilities.  

Nếu tất cả các sách giáo trình tài chính chính thống nổi tiếng như BMA, BKM; từ sách Tài chính doanh nghiệp cho tới định giá đầu tư của Damodaran; từ trang web investopedia hàng triệu độc giả và giải thưởng của US cho tới trang web của CFI là tổ chức chuyên dạy tài chính, từ trang web của ACCA cho tới CFA, từ MIT cho tới Harvard đều dùng chung thuật ngữ và cách hiểu này, bao gồm cả Chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ, mà mỗi bạn với cuốn sách của bạn dùng "phương ngữ" khác, thì bạn cứ việc khư khư ôm thuật ngữ và cách hiểu của bạn. Tôi chỉ cung cấp thông tin và không quan tâm  đến việc bạn muốn hiểu như thế nào. Nếu bạn cho rằng công thức tính Working Capital của tất cả các tổ chức trên đều sai, và bạn đúng, thì OK, bạn đúng !




























13/03/2024

Bài học về định giá từ WeWork: Vấn đề những con số kế toán không chuẩn mực

Bài viết này của anh Hồ Quốc Tuấn đăng trên tạp chí Thesaigontimes vào năm 2019, nhưng nay link không còn truy cập được. Tôi re-up để các bạn quan tâm có thể đọc.

Đầu năm 2019, WeWork được định giá 47 tỉ đô la Mỹ. Tới tháng 9-2019, WeWork đã phải cắt giảm giá trị cổ phiếu tới hơn một nửa so với kỳ vọng ban đầu, xuống còn 20-30 tỉ đô la Mỹ. Đến cuối tháng 9, công ty chấm dứt kế hoạch phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO).

Lịch sử tư vấn định giá của WeWork chứa đựng nhiều thông tin thú vị. JPMorgan định giá trong khoảng 46-63 tỉ đô la Mỹ, Goldman Sachs cho rằng giá trong khoảng 61-96 tỉ đô la Mỹ, còn Morgan Stantely thì ước tính giá vào khoảng 43-104 tỉ đô la Mỹ (một khoảng giá trị rất rộng!).

Trong nhiều ngày qua đã có nhiều bài báo viết về các khía cạnh khác nhau của WeWork, như công ty này có phải công ty công nghệ không, “đàn cừu” đã hứng khởi một cách phi lý như thế nào (lưu ý là trong số “đàn cừu” đó có những “đại gia” như Masayoshi Son của SoftBank). Người ta nhắc lại câu chuyện về cái chết của những công ty khởi nghiệp - startup kỳ lân (unicorns). Và còn nhiều nữa.

Trong bài này tôi xin đề cập đến một vấn đề khô khan hơn một chút, nhưng là một tín hiệu cảnh báo về rủi ro định giá sai vì dựa trên những con số báo cáo không đáng tin cậy, và điều này không chỉ áp dụng cho công ty công nghệ. Đó là chuyện định giá dựa trên những thước đo giá trị không đáng tin cậy, không được kiểm toán, nhưng lại đang được áp dụng rộng rãi.

Câu chuyện những con số EBITDA được điều chỉnh và những thước đo không theo chuẩn mực kế toán

Trong câu chuyện của WeWork, có một khái niệm kế toán được báo chí chú ý, đó là con số EBITDA đã điều chỉnh cộng đồng (Community Adjusted EBITDA). Nói nôm na, đây là một con số lợi nhuận kế toán nhưng đã được “điều chỉnh” bằng cách cộng ngược trở lại (cộng thêm) rất nhiều loại chi phí kế toán đã được trừ khi tính số liệu lợi nhuận theo chuẩn mực kế toán (lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí). Nói nôm na là bạn làm lợi nhuận điều chỉnh cao hơn lợi nhuận theo chuẩn mực kế toán.

Những chi phí đó bao gồm chi lương thưởng dưới hình thức cổ phiếu, thuế, lãi vay, khấu hao, và thậm chí cả những chi phí tiền thuê, điện nước, Internet, chi phí lương công nhân xây dựng, trong đó bao gồm cả những mục chi phí lớn nhất của WeWork. Nói chung, WeWork tranh luận rằng đây là những chi phí “hoạt động xây dựng cộng đồng” và vì vậy con số lợi nhuận kế toán theo chuẩn mực kế toán thông thường không thể phản ánh đúng chất lượng hoạt động của công ty, mà cần dùng con số EBITDA đã điều chỉnh cộng đồng.

Nói cách khác, định giá dùng phương pháp giá/EBITDA (P/EBITDA) thì muốn ra con số giá nào cũng được, chỉ cần chọn một con số P/EBITDA mà mình thích.

Không dừng ở đó, WeWork còn sáng tạo ra một loạt chỉ tiêu mà giới kế toán nghe là nhức đầu: EBITDA điều chỉnh trước đầu tư tăng trưởng (Adjusted EBITDA before Growth Investments), và doanh thu dịch vụ và phí thành viên trung bình trên mỗi thực thể thành viên (ARPPM - annual average membership and service revenue per physical member).

Vì sao các kế toán viên nhức đầu khi thấy những con số này? Vì chúng chẳng phải là số liệu kế toán chuẩn mực. Các số liệu kế toán chuẩn mực như doanh thu, lợi nhuận thường thấy phải tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán quốc gia hoặc quốc tế, gọi chung là số liệu kế toán GAAP (Generally Accepted Accounting Principles).

Thế nhưng theo thời gian, người ta cho rằng có những công ty đặc thù, như công ty công nghệ, có rất nhiều chi phí đặc thù không nên được tính, ví dụ như lương thưởng dưới hình thức cổ phiếu. Ngoài ra, người ta còn cho là số liệu lợi nhuận GAAP không phản án đúng dòng tiền vì có những chi phí kế toán như khấu hao không thực sự là những khoản tiền mặt chi ra. Và cuối cùng, có những chi phí chỉ diễn ra không thường xuyên, như vài năm một lần, vì vậy không nên được tính vào thước đo lợi nhuận.

Thế là vì mục đích định giá chính xác hơn dựa trên giá trị kinh tế thực của công ty, người ta bắt đầu sáng tạo ra nhiều loại thước đo không tuân theo chuẩn mực kế toán, mà dân trong nghề gọi là thước đo non-GAAP (non-GAAP measures).

Một trong những con số non-GAAP hết sức phổ biến là các thước đo EBITDA được điều chỉnh (adjusted EBITDA). Điều thú vị là mỗi một công ty sẽ có một cách điều chỉnh EBITDA khác nhau, dù là cùng hoạt động trong một ngành. Và mỗi nhà phân tích cổ phiếu của công ty chứng khoán cũng sẽ có những con số EBITDA cho riêng mình, và... khác luôn với con số EBITDA của công ty và các nhà phân tích khác khi định giá.

Nói tóm lại, sử dụng EBITDA điều chỉnh có một nhược điểm rõ ràng: không thể so sánh EBITDA của những công ty khác nhau, bởi vì mỗi công ty điều chỉnh một cách khác nhau. Nói cách khác, định giá dùng phương pháp giá/EBITDA (P/EBITDA) thì muốn ra con số giá nào cũng được, chỉ cần chọn một con số P/EBITDA mà mình thích.

Phổ biến trên thế giới và cả Việt Nam

Thực tế này ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và Việt Nam. Ngày nay, bạn sẽ không khó bắt gặp định giá công ty nào đó ở Việt Nam dùng những con số như EBITDA đã điều chỉnh, lợi nhuận đã điều chỉnh, dòng tiền thuần đã điều chỉnh... Và những con số này cũng xuất hiện trong phần diễn giải về kết quả kinh doanh của công ty trong báo cáo thường niên. Đó thường là vì những con số non-GAAP này lớn hơn con số lợi nhuận kế toán theo chuẩn mực (số GAAP). Và không ít trường hợp số GAAP thì âm nhưng số non-GAAP là dương.

Tất nhiên không phải công ty nào cũng cố tình dùng số non-GAAP như EBITDA điều chỉnh để đánh lừa nhà đầu tư. Có những trường hợp đúng là do đặc thù công ty, con số EBITDA điều chỉnh sẽ phản ánh chính xác hơn hoạt động công ty. Nhưng trong nhiều trường hợp, số non-GAAP sẽ có thể đánh lừa nhà đầu tư để đưa ra định giá cao hơn, vì nhiều công ty sẽ được định giá dựa trên các thước đo như giá/EBITDA điều chỉnh, hay thậm chí điên rồ như là giá/“mực nước biển”. Một đồng nghiệp của tôi đã thốt lên như vậy trong một hội thảo do ICAEW tổ chức ở London cách đây một năm!

Đồng nghiệp tôi nửa đùa nửa thật. Ông đã làm một phân tích bỏ túi hơn chục công ty công nghệ niêm yết ở Mỹ và châu Âu và chỉ ra rằng có hơn một tá các chỉ số định giá mà giới nghiên cứu và đi xây dựng chuẩn mực kế toán chưa từng nghe bao giờ, nhưng đang được các nhà phân tích tài chính sử dụng để định giá các công ty công nghệ phát triển trên nền tảng người dùng đăng ký trả tiền hay mạng xã hội miễn phí, bao gồm cả những công ty niêm yết đại chúng rất phổ biến như Netflix và Facebook.

Có những trường hợp đúng là do đặc thù công ty, con số EBITDA điều chỉnh sẽ phản ánh chính xác hơn hoạt động công ty.

Trong trường hợp của WeWork, Scott Galloway, giảng viên môn tiếp thị của trường kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, nói đùa là WeWork có thể đưa ra bất kỳ chỉ tiêu nào, kể cả EBEPW (lợi nhuận trước khi điều chỉnh mức trả lương công bằng cho nữ giới - Earnings Before Equal Pay for Women)! Tất nhiên ông ta chỉ đùa.

Thế nhưng nó cũng phản ánh thực tế là người ta có thể biến lỗ thành lời, lỗ nhiều thành lỗ ít, lời ít thành lời nhiều với khả năng biến hóa vô tận của các chỉ tiêu non-GAAP. Khả năng sáng tạo của con người lớn bao nhiêu thì khả năng biến hóa của các con số non-GAAP lớn bấy nhiêu.

Và các chỉ tiêu này không hề được kiểm toán!

Từ nghệ thuật định giá đến ảo vọng giá trị

Những thước đo “trời ơi” như vậy có thể chỉ là câu chuyện cười của dân trong nghề khi đề cập đến chủ đề này. Thế nhưng với giới quản lý thông tin tài chính trên thị trường như SEC (Securities and Exchange Commission) của Mỹ hay FRC của Anh, nó là chuyện cực kỳ nghiêm túc.

Thời nay ai cũng tin rằng định giá công ty là nghệ thuật chứ không phải khoa học, và tôi cũng tin là như vậy. Trong bối cảnh đó, việc giới phân tích và nhà đầu tư dễ dàng chấp nhận một con số non-GAAP không được kiểm toán và các phương pháp định giá dựa trên nó dễ dẫn đến những ảo vọng giá trị, biến một công ty vỏ rỗng thành công ty tỉ đô, chỉ vì người ta định giá dựa trên tương lai của công ty chứ không phải hiện tại (vì hiện tại toàn lỗ thì làm sao định giá!).

Khác với một số đồng nghiệp cố gắng tìm cách hạn chế lạm dụng non-GAAP ở các công ty công nghệ, tôi nghĩ nỗ lực đó rất khó làm được gì hơn vì bản thân công ty công nghệ là không rõ ràng trong... mọi thứ, từ sản phẩm, chiến lược cho đến câu chuyện. Trong trường hợp lừa đảo ở Theranos, công ty một thời được định giá tỉ đô trước khi bị phát hiện lừa đảo của Elizabeth Holmes, số liệu kế toán không phải là trọng tâm. Đó là vì sản phẩm cơ bản của công ty là một trò lừa rồi.

Trong trường hợp lừa đảo ở Theranos, công ty một thời được định giá tỉ đô trước khi bị phát hiện lừa đảo của Elizabeth Holmes, số liệu kế toán không phải là trọng tâm. Đó là vì sản phẩm cơ bản của công ty là một trò lừa rồi.

Tôi nghe không ít bạn bè dân làm công nghệ kể có những công ty sản phẩm toàn lỗi trong phần mềm (bạn tôi nói nôm na là code đầy lỗi, mô hình chạy được độ chính xác chừng 70% nhưng khi gọi vốn thì trưng ra kết quả tốt nhất cho thấy độ chính xác tới 90%!), và cứ thế đem đi gọi vốn. Điều ngạc nhiên là một số người đó vẫn gọi được vốn, hy vọng đem tiền về... vừa “đốt” vừa sửa code (không biết có sửa được không).

Người ta đầu tư vào những công ty đó chỉ là vì đặt niềm tin vào đội ngũ lãnh đạo và hy vọng những con người khởi nghiệp đầy nhiệt huyết đó sẽ biến đá thành vàng. Và trong vài trăm ngàn công ty như vậy, chắc chắn rồi sẽ có một Amazon hay Google. Vấn đề không biết là cái nào thôi (vì họ đều làm những thứ gần giống nhau). Và những con số kế toán đáng tin cậy hơn ở những công ty đó cũng chẳng giúp ích gì (vì đa phần chúng là số âm). Vì vậy, tôi nghĩ vai trò số liệu kế toán trong định giá ở những công ty startup hay công ty công nghệ đã niêm yết chỉ là phần phụ, vì có sự bất cân xứng thông tin trong rất nhiều thứ quan trọng hơn.

Các công ty niêm yết đại chúng cũng lạm dụng số liệu non-GAAP và kinh nghiệm quản lý của SEC.

Tôi cho rằng điều đáng quan tâm hơn của việc lạm dụng số liệu non-GAAP là ở chính các công ty niêm yết đại chúng đã trưởng thành và ổn định. Rất nhiều công ty lớn không làm gì liên quan đến công nghệ cũng sử dụng các số liệu non-GAAP. Đây là mối quan tâm chủ chốt của SEC ở Mỹ. Quan điểm chủ đạo của SEC cho rằng người ta có thể lừa nhà đầu tư dựa trên các số liệu non-GAAP tô hồng hoạt động của công ty. Do đó, SEC đã buộc công ty khi công bố số liệu non-GAAP phải có một bảng chi tiết hướng dẫn cách mà số non-GAAP có thể được tính ra từ số GAAP (gọi là reconciliation).

Một trong những bài học từ trường hợp WeWork là về tình trạng thiếu kiểm soát của việc lạm dụng những chỉ tiêu kế toán không theo chuẩn mực, những thứ có thể tạo ra ảo vọng về giá trị đối với nhà đầu tư đại chúng.

Đồng thời SEC cũng yêu cầu các công ty khi trình bày các số liệu non-GAAP, phải dẫn luôn số liệu GAAP đi kèm. SEC yêu cầu số liệu GAAP phải được trình bày với mức độ ngang hoặc nhiều hơn số non-GAAP, một điều còn gây tranh cãi rất lớn ở Mỹ ở góc độ thực thi và tuân thủ. Dù vậy, tháng 12-2018, SEC đã phạt một công ty 100.000 đô la Mỹ vì đã dẫn số liệu non-GAAP (EBITDA điều chỉnh, lợi nhuận ròng điều chỉnh) trong bản trình bày lợi nhuận cho nhà đầu tư mà không đưa số liệu GAAP có liên quan một cách rõ ràng.

Vì sao SEC phải lo ngại như vậy? Vì họ biết có một thực tế rằng các công ty niêm yết Mỹ thuê những công ty tư vấn viết báo cáo tài chính và huấn luyện trình bày số liệu kinh doanh cho cổ đông theo cách cố tình nhấn mạnh những con số lợi nhuận “đẹp” (đa phần là non-GAAP), che đi số lợi nhuận xấu. Nó có thể khiến những nhà phân tích cổ phiếu thân thiết với công ty đưa ra những định giá “trên trời” dựa trên những con số giá/số non-GAAP và thuyết phục nhà đầu tư tin vào ảo vọng giá trị đó.

Nếu như thị trường công ty khởi nghiệp là thị trường của nhà đầu tư có kinh nghiệm, chấp nhận rủi ro để kiếm những công ty kỳ lân thật sự, thì thị trường chứng khoán đại chúng không như vậy. Vì vậy, việc các công ty niêm yết đại chúng sử dụng con số non-GAAP thì cần phải được kiểm soát chặt và nhà đầu tư đại chúng phải được cảnh báo về chúng.

Ngày nay, tôi thấy ngày càng nhiều con số định giá dựa trên EBITDA, lợi nhuận điều chỉnh, trong các báo cáo phân tích công ty ở Việt Nam, và thường thấy báo chí nói về những con số lợi nhuận lõi, lợi nhuận đã điều chỉnh. Về cơ bản, đó chính là dấu hiệu cho thấy sự phổ biến của các con số non-GAAP ở Việt Nam. Cơ quan quản lý thị trường có lẽ nên tham khảo cách làm của SEC trước khi quá muộn.

Bài học định giá từ WeWork vì vậy không chỉ cho chúng ta cảnh báo về những công ty khởi nghiệp “giả danh” công ty công nghệ, mà còn là những cảnh báo về tình trạng thiếu kiểm soát của việc lạm dụng những chỉ tiêu kế toán không theo chuẩn mực, những thứ có thể tạo ra ảo vọng về giá trị đối với nhà đầu tư đại chúng. Ở một thị trường có nhiều nhà đầu tư cá nhân không hiểu biết nhiều về báo cáo tài chính và kế toán như Việt Nam, chuyện này không thể xem thường.

23/07/2023

9 sai lầm hàng đầu nên tránh khi thẩm định giá bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền

Nguồn: Joseph Tham (*)

Dịch: Admin Group Tôi học Thẩm định giá

-----

Trong định giá bằng phương pháp dòng tiền (Cash Flow Valuation), có hai loại sai lầm chính: xác định dòng tiền và ước tính chi phí vốn phù hợp. Quan điểm đơn giản cho thấy rằng nếu thị trường vốn gần như hoàn hảo, sự hiện diện của kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) sẽ trừng phạt nghiêm khắc việc định giá “sai” và loại bỏ những sai lầm này trong việc xác định dòng tiền và ước tính chi phí vốn. Tuy nhiên, trước sự thất vọng của giới học thuật, những sai lầm như vậy vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mạnh. Không rõ tại sao những “sai lầm” như vậy vẫn tồn tại trong thực tế.
Trong bài viết này, chúng tôi trình bày danh sách "09 sai lầm hàng đầu" trong định giá dòng tiền. Trong thời đại của máy tính, những sai lầm này là không cần thiết và có thể tránh được. Thất bại là mẹ thành công (tạm dịch từ câu gốc của tác giả: In the usual triumph of hope over experience), chúng tôi đang cố gắng thuyết phục các nhà phân tích rằng họ sẽ có lợi nếu chú ý đến những sai lầm này. Cuối cùng, tầm quan trọng (hoặc không) của những sai lầm này là một câu hỏi thực nghiệm và phụ thuộc vào các đánh giá, cân nhắc của những người thực hành.

1. Sử dụng không chính xác các công thức WACC lấy từ các dòng tiền vĩnh viễn cho các dòng tiền hữu hạn.
2. Xác định các dòng tiền theo giá thực không chính xác (hoặc tệ hơn là theo giá không đổi) thay vì theo giá danh nghĩa.
3. Sử dụng giá trị sổ sách thay vì giá trị thị trường (giá trị đúng) để tính trọng nợ và vốn chủ sở hữu trong Chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC).
4. Giả sử rằng tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu có vay nợ trong WACC là không đổi ngay cả khi đòn bẩy thay đổi.
5. Xác định tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu có vay nợ và tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu không vay nợ như là các tham số độc lập với nhau.
6. Giả định rằng các lá chắn thuế luôn được thực hiện trong năm mà chúng xảy ra (thường không chính xác)
7. Không xác minh rằng tổng của dòng tiền tự do (FCF) và lá chắn thuế (TS) phải bằng tổng của dòng tiền nợ vay (CFD) và dòng tiền vốn chủ sở hữu (CFE).
8. Loại trừ không chính xác tiền mặt và các chứng khoán có thể giao dịch như một phần của việc điều chỉnh trong change in the Net Working Capital (NWC) để tạo ra dòng tiền tự do (FCF). Điều này dẫn đến sai sót trong việc ước tính dòng tiền trên vốn chủ sở hữu (CFE). Ví dụ, xem trang 36 trong Benninga & Sarig (1997). Họ nêu rõ "Tiền mặt và chứng khoán có thể giao dịch là ví dụ tốt nhất về các khoản mục vốn lưu động mà chúng tôi loại trừ khỏi định nghĩa của chúng tôi về ∆NWC, vì chúng là chứng khoán có thanh khoản vượt trội của công ty."
9. Không xác minh rằng tổng giá trị hiện tại (PV) của dòng tiền tự do (FCF) và PV của lá chắn thuế (TS) phải bằng tổng PV của dòng tiền đối với nợ (CFD) và PV của dòng tiền trên vốn chủ sở hữu (CFE)


----
* TS Joseph Tham gần như là một trong những người đầu tiên dạy và đưa phương pháp thẩm định và định giá doanh nghiệp về Việt Nam từ khi VN còn ko biết kinh tế thị trường hay tài chính là gì, không biết máy tính, internet (từ những năm 1996-1998, khi ông còn làm việc tại Viện phát triển quốc tế Harvard, và ông có 1 thời gian giảng dạy tại Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP. HCM thuộc Vietnam Program - ĐH Harvard). Vẫn còn rất nhiều giáo trình, tài liệu của VN đến nay vẫn dựa vào nguồn tài liệu gốc ban đầu từ Joseph Tham.

10/07/2023

Chi đầu tư vốn (CAPEX) - vấn đề không đơn giản

(Trích bài viết thảo luận cũ của tôi đăng từ 02/7/2021 trong group)

Khi định giá doanh nghiệp bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp (FCFF), một vấn đề không đơn giản đối với các Thẩm định viên là ước tính Chi đầu tư vốn (CAPEX).

Mô hình FCFF theo quốc tế có dạng như sau (1):
EBIT*(1 – Tax Rate) + D&A – Δ Net WC – CAPEX
Where:
EBIT = Earnings before Interest and Tax (lợi nhuận trước lãi vay và thuế)
D&A = Depreciation and Amortization (khấu hao)
CAPEX = Capital Expenditures (Chi đầu tư vốn)
Δ Net WC = Net Change in Working capital (Thay đổi trong vốn lưu động ròng)
(Đây ko phải nguồn duy nhất, các bạn dễ dàng kiểm chứng trong mọi giáo trình và tài liệu quốc tế khác về FCFF).
Công thức này cũng tương tự như công thức FCFF trong tiêu chuẩn 12 cũ và mới của Việt Nam. Điểm mình muốn đưa ra trao đổi ở đây là CAPEX (Capital Expenditures) được tính như thế nào ?
Theo tiêu chuẩn 12 cũ:
"Chi đầu tư vốn bao gồm: Chi đầu tư tài sản cố định và tài sản dài hạn khác, chi đầu tư tài sản hoạt động nằm trong nhóm chi mua công cụ nợ của đơn vị khác và chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác (nếu có)"
Theo tiêu chuẩn 12 mới, có hiệu lực từ 01/7/2021:
"Chi đầu tư vốn bao gồm: Chi đầu tư tài sản cố định và tài sản dài hạn khác, chi đầu tư tài sản hoạt động nằm trong nhóm chi mua công cụ nợ của đơn vị khác và chi đầu tư tài sản hoạt động góp vốn vào đơn vị khác (nếu có)"
Câu hỏi đặt ra là: Chi đầu tư tài sản hoạt động góp vốn vào đơn vị khác trong thực tế là khoản chi nào ? CAPEX có bao gồm các khoản này không ?
Nhìn lại định nghĩa CAPEX, theo Investopedia (2):
"Capital expenditures (CapEx) are funds used by a company to acquire, upgrade, and maintain physical assets such as property, plants, buildings, technology, or equipment. CapEx is often used to undertake new projects or investments by a company. Making capital expenditures on fixed assets can include repairing a roof, purchasing a piece of equipment, or building a new factory.
Capital expenditure (CapEx) is a payment for goods or services recorded—or capitalized—on the balance sheet instead of expensed on the income statement.
CapEx spending is important for companies to maintain existing property and equipment, and invest in new technology and other assets for growth.
If an item has a useful life of less than one year, it must be expensed on the income statement rather than capitalized (i.e., cannot be considered CapEx).
CapEx can tell you how much a company is investing in existing and new fixed assets to maintain or grow the business
(Tạm dịch:
Chi tiêu vốn (CapEx) là các khoản tiền được sử dụng để mua sắm, nâng cấp và duy trì các tài sản vật chất như tài sản, nhà máy, tòa nhà, công nghệ hoặc thiết bị. CapEx thường được sử dụng để thực hiện các dự án hoặc khoản đầu tư mới của một công ty. Thực hiện chi tiêu vốn cho tài sản cố định có thể bao gồm sửa chữa mái nhà, mua một phần thiết bị hoặc xây dựng một nhà máy mới.
Chi tiêu vốn (CapEx) là khoản thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ được ghi nhận — hoặc vốn hóa — trên bảng cân đối kế toán thay vì chi phí trên báo cáo KQKD.
Chi tiêu CapEx rất quan trọng đối với các công ty để duy trì tài sản và thiết bị hiện có, đồng thời đầu tư vào công nghệ mới và các tài sản khác để tăng trưởng.
Nếu một mặt hàng có thời hạn sử dụng dưới một năm, thì nó sẽ là khoản chi phí thể hiện trên báo cáo KQKD chứ không phải vốn hóa (tức là không thể được coi là CapEx).
CapEx có thể cho bạn biết một công ty đang đầu tư bao nhiêu vào tài sản cố định hiện có và tài sản cố định mới để duy trì hoặc phát triển doanh nghiệp)
Như vậy, không thấy đề cập tới khoản "chi đầu tư tài sản hoạt động nằm trong nhóm chi mua công cụ nợ của đơn vị khác và chi đầu tư tài sản hoạt động góp vốn vào đơn vị khác (nếu có)" hay chi đầu tư góp vốn. Chi đầu tư tài sản hoạt động góp vốn là thuật ngữ rất khó hiểu và tối nghĩa (đối với mình). Một số bạn có thể lý luận theo cách hiểu góp vốn vào đơn vị khác bằng tài sản phi tiền tệ. Nhưng điều gì cho thấy tài sản phi tiền tệ được sử dụng góp vốn vào đơn vị khác, ngành nghề kinh doanh khác này là tài sản hoạt động ?
Bên cạnh đó, khi chúng ta sử dụng báo cáo tài chính hợp nhất, thì các khoản chi đầu tư góp vốn vào công ty con sẽ không thể hiện (đương nhiên), và có thể thể hiện khoản chi đầu tư góp vốn từ 20% đến dưới 50% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư mà không có thoả thuận khác (hiểu 1 cách tóm tắt là vậy, chi tiết thì kế toán viên sẽ nắm rõ).
Nhưng vấn đề ở chỗ, trên Bảng cân đối kế toán, khoản đầu tư này sẽ thể hiện ở mục Đầu tư vào cty liên doanh, liên kết hoặc Đầu tư dài hạn khác. Và lợi ích từ khoản đầu tư góp vốn (cũng như mua công cụ nợ) sẽ thể hiện ở lợi nhuận tài chính. Vì dòng tiền FCFF chúng ta tính toán là của tài sản hoạt động (Operating assets) nên thu nhập từ tài sản phi hoạt động như lợi nhuận tài chính phải bỏ ra khỏi dòng tiền, đồng thời giá trị tài sản phi hoạt động cũng được tính riêng, lý do là các tài sản này có độ rủi ro khác với rủi ro của hoạt động kinh doanh chính.
Vậy khi mà dòng tiền của khoản đầu tư góp vốn này được tính riêng, tỷ suất chiết khấu tính riêng (vì beta của tài sản này khác với beta tài sản hoạt động), giá trị được tính riêng; thì lý do gì để cộng các khoản nói trên vào CAPEX khi tính FCFF ?
Rất mong nhận được trao đổi từ các chuyên gia kế toán, kiểm toán đang công tác trong lĩnh vực Thẩm định giá.
P/S: Tôi đưa ra vấn đề mang tính gợi mở, không nhằm phê phán hay khẳng định cực đoan đúng hay sai (tùy vào đánh giá mỗi người). Chi đầu tư vốn ở đây là vấn đề phức tạp, ngay cả Damodaran còn đề xuất cộng thêm cả chi phí nghiên cứu triển khai R&D và mua lại DN vào CAPEX (còn phần lớn các nguồn khác tính CAPEX như khoản chi đầu tư ròng vào TSCĐ). Vấn đề là, việc đưa khoản nào vào CAPEX thì đều phải góp phần trực tiếp tạo nên tăng trưởng kỳ vọng của dòng tiền FCFF từ hoạt động kdoanh, còn nếu không, nên chăng ta đưa nó vào TS phi hoạt động và tính riêng. Vì lẽ rằng không thể chiết khấu dòng tiền của TS phi hoạt động này cùng với tỷ suất chiết khấu của TS hoạt động).
(1) https://corporatefinanceinstitute.com/resources/financial-modeling/free-cash-flow-to-firm-fcff

KỲ 3: GIẢI MÃ "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ" VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kỳ 3: GIẢI MÃ "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ" VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Tác giả: Dương Thành Đạt Mô hình minh họa cơ chế lan tru...