01/10/2026

KỲ 2: LỆCH PHA DỮ LIỆU – KHỞI ĐẦU CỦA "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ"

KỲ 2: LỆCH PHA DỮ LIỆU – KHỞI ĐẦU CỦA "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ"

Tác giả: Dương Thành Đạt

 I.  Sự lệch pha dữ liệu: khi giá trúng đấu giá được dùng làm căn cứ so sánh trực tiếp để ước tính Giá trị thị trường

Dù có ý kiến đề xuất bỏ quy định “định giá đất theo nguyên tắc thị trường”[1] vì đây được xem là nguyên nhân khiến giá đất tăng cao[2]. Nhưng dưới góc nhìn chuyên môn thẩm định giá, một trong những nguyên nhân chính của tình trạng giá đất bị đẩy lên cao trong thời gian qua không nằm ở việc xác định theo giá trị thị trường (market value), mà do thực trạng sử dụng mức giá giao dịch (market price) bị chệch cao làm dữ liệu so sánh.

Theo Điểm a, khoản 2, Điều 4, Nghị định 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2024 (được sửa đổi tại Nghị định 226/2025/NĐ-CP), “thông tin đầu vào để định giá đất là giá đất đã hoàn thành chuyển nhượng trên thị trường, giá đất đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính quy định…”.

Do thực trạng kê khai “hai giá”, giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng thường thấp hơn giá giao dịch thực tế, trở thành một ước lượng chệch âm (downward biased estimator) của giá trị thị trường. Để tránh nguy cơ định giá thấp tài sản của nhà nước, gây rủi ro trách nhiệm pháp lý nặng nề, hầu hết những người hành nghề định giá đều ưu tiên chọn sử dụng giá trúng đấu giá như căn cứ đáng tin cậy hàng đầu để làm dữ liệu so sánh. Từ đó xác định ra kết quả gọi là “giá trị thị trường của đất” dù về bản chất chuyên môn là không chính xác.

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (IVS), giá trị thị trường là số tiền ước tính để tài sản có thể được giao dịch tại thời điểm thẩm định giá giữa bên sẵn sàng mua và bên sẵn sàng bán, trong một giao dịch khách quan, độc lập, sau khi được marketing đầy đủ và các bên tham gia hành động có hiểu biết, thận trọng và không bị ép buộc.

Trong khi đó, đấu giá bản chất là phương thức để người bán bán được tài sản với giá cao nhất thông qua cạnh tranh giữa những người mua, từ đó hưởng một phần hoặc tối đa thặng dư tiêu dùng từ người có mức sẵn lòng chi trả cao nhất. Vì là kết quả của giao dịch thuận mua vừa bán thực tế trên thị trường, đôi khi giá trúng đấu giá thường bị ngộ nhận như một bằng chứng tốt về giá trị thị trường của tài sản. Tuy nhiên, giá trúng đấu giá chỉ là một dữ liệu giá cả thực tế quan sát được (Observed Price) và phản ánh mức sẵn lòng chi trả cao nhất của phiên đấu giá, không đồng nhất với Giá trị thị trường (Market Value).

Nền tảng Lý thuyết Đấu giá hiện đại được xây dựng bởi các học giả hàng đầu như William Vickrey (Nobel Kinh tế 1996), Robert Wilson và Paul R. Milgrom (Nobel Kinh tế 2020) đã chỉ rằng giá trị một tài sản đấu giá gồm 02 cấu phần: Giá trị chung (Common Value) — giá trị thực sự của tài sản giống nhau đối với tất cả mọi người, và Giá trị riêng (Private Value) — giá trị đặc thù phụ thuộc hoàn toàn vào sở thích, năng lực, lợi thế cá nhân của người mua và độc lập với những người mua khác.

Lời nguyền người chiến thắng (Winner's Curse) đề cập đến hiện tượng phổ biến trong các cuộc đấu giá, ở đó người thắng cuộc thường là người lạc quan nhất hoặc thiếu thông tin nhất, dẫn đến việc trả giá quá cao so với giá trị thực và thường phải gánh chịu thua lỗ sau đó.

Do vậy, dưới góc nhìn thống kê, trong các cuộc đấu giá có sự cạnh tranh đẩy giá lên, nếu không được điều chỉnh để loại bỏ phần giá trị riêng, giá trúng đấu giá có thể trở thành một ước lượng chệch dương (upward biased estimator) khi được sử dụng như đại diện trực tiếp cho giá trị thị trường chính tài sản đó. Việc nạp trực tiếp dữ liệu bị chệch dương này vào mô hình để làm căn cứ so sánh trực tiếp sẽ kích hoạt vòng lặp thổi phồng mặt bằng giá.

Nguồn: Tác giả tự minh họa

Mô hình hóa bằng lý thuyết đơn giản

Trong cuộc đấu giá, đường cung tài sản đấu giá được giả định thẳng đứng vì số lượng lô đất đấu giá là có hạn (N là số lô đất được đem ra đấu giá đồng thời). Đường cầu dốc xuống biểu thị mức giá tối đa mà từng người đấu giá chấp nhận trả, xếp theo dạng bậc thang, thứ tự từ cao đến thấp. Mức sẵn lòng chi trả WTP của người tham gia đấu giá sẽ chịu ảnh hưởng bởi giá khởi điểm (do quan niệm phổ biến rằng giá sơ cấp do nhà nước bán ra là hàng F0 giá rẻ, sẽ luôn tăng khi bán lại trên thị trường thứ cấp), tâm lý rượt đuổi giá, hiệu ứng đám đông và có thể có cả sự lạc quan thái quá đẩy giá lên cao so với giá trị thực.

Mức giá thị trường cân bằng (Pthị trường) được xác định tại giao điểm của đường Cầu thị trường chung và đường Cung thị trường chung, đại diện cho mức giá phổ biến mà “người mua điển hình” trên thị trường sẵn sàng giao dịch. Giá trị thị trường (market value) không phản ánh mức giá "cực đoan" của 1 cá nhân trả cao nhất trong đấu giá, mà phản ánh mức giá cân bằng của số đông người mua điển hình trên thị trường giao dịch thông thường. Nếu giả định thị trường là hoàn hảo, giá thị trường cân bằng được kỳ vọng phản ánh đúng giá trị thị trường.

Pkhởi điểm được xác định theo nguyên tắc thị trường. Trong mô hình giả định này, giả định rằng nhà nước và đơn vị tư vấn đã ước tính đúng Pkhởi điểm = Pthị trường và không để xảy ra “thất thoát”.

Trong các cuộc đấu giá đất Nhà nước, giá trúng đấu giá thường cao hơn mức giá khởi điểm ban đầu (Ptrúng đấu giá > Pkhởi điểm = Pthị trường) vì các bước giá là số dương, đồng thời tồn tại quan niệm phổ biến của người mua rằng đất nhà nước đấu giá là “hàng F0” giá rẻ, ngay khi bước ra khỏi cửa đã có thể bán sang tay chênh vài giá.

Khi số lượng tài sản đấu giá không nhiều (thường xảy ra trong thực tế), mức giá trúng đấu giá (Ptrúng đấu giá) thường nằm ở đỉnh hoặc gần đỉnh cao nhất của đường cầu, phản ánh mức giá sẵn lòng chi trả (WTP) của người mua cá biệt (particular buyer), không đại diện cho toàn bộ thị trường.

Trong mô hình đơn giản, phần chênh lệch giữa Ptrúng đấu giá và Pthị trường chính là giá trị riêng mà người thắng cuộc chấp nhận trả. Quan hệ của 2 mức giá này là:

Giá trúng đấu giá (Ptrúng đấu giá) = Giá trị chung (Pthị trường) + Giá trị riêng (2)

Hình 1. Trường hợp đấu giá 1 thửa đất



Hình 2. Trường hợp đấu giá nhiều hơn 1 thửa đất

* Chú thích: Hình 1 và Hình 2 được vẽ với giả định giá đất khởi điểm dù được xác định theo phương pháp nào thì vẫn đảm bảo phù hợp với giá trị thị trường theo đúng quy định tại Luật Đất đai. Trong trường hợp giả định này không đúng, chẳng hạn giá khởi điểm xác định thấp hơn (hoặc cao hơn) giá trị thị trường, đường giá khởi điểm sẽ nằm dưới (hoặc trên) đường P thị trường, các hàm ý của đồ thị vẫn không thay đổi.

Như vậy, giá trúng đấu giá bao hàm cả giá trị riêng (private value) – vốn chỉ có ý nghĩa với người mua cụ thể, nên có nét tương đồng với khái niệm “giá trị đặc biệt” trong Thẩm định giá. Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế IVS 104 (phiên bản năm 2013) định nghĩa về “giá trị đặc biệt” như sau: Giá trị đặc biệt là số tiền phản ánh các thuộc tính riêng biệt của tài sản mà chỉ có giá trị đối với một người mua đặc biệt. Các thuộc tính này có thể bao gồm các đặc điểm về mặt vật lý, địa lý, kinh tế hoặc pháp lý của tài sản khiến tài sản này trở nên hấp dẫn hơn đối với một người mua cụ thể so với bất kỳ người mua nào khác trên thị trường. Giá trị đặc biệt cũng được đề cập tương tự trong Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 02 trước đây (Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 của Bộ Tài chính). Mặc dù “giá trị đặc biệt” không còn được đứng như một cơ sở giá trị độc lập kể từ phiên bản IVS năm 2017, nhưng IVS năm 2025 vẫn nhất quán: Khi xác định giá trị thị trường, bắt buộc phải loại bỏ bất kỳ yếu tố, đặc tính nào chỉ có giá trị với một người mua cụ thể - đây chính là phần giá trị riêng trong khung lý thuyết đấu giá.

TIÊU CHUẨN THẨM ĐỊNH GIÁ QUỐC TẾ (IVS 2025)

Theo khoản A10.07 - Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế IVS (có hiệu lực từ 31/01/2025), Giá trị thị trường (market value) không phản ánh các đặc tính của tài sản vốn chỉ có giá trị đối với một chủ sở hữu hoặc một người mua cụ thể, mà những người mua khác trên thị trường không có được. Những lợi thế này có thể liên quan đến các đặc điểm về vật lý, địa lý, kinh tế hoặc pháp lý của tài sản. Việc xác định Giá trị thị trường đòi hỏi phải loại bỏ (không tính đến) bất kỳ yếu tố giá trị nào như vậy; vì tại bất kỳ thời điểm nào, cơ sở giá trị thị trường chỉ giả định sự tồn tại của một người sẵn lòng mua, chứ không phải một người sẵn lòng mua cá biệt (a particular willing buyer).

 Việc tham khảo kết quả trúng đấu giá như một nguồn thông tin thực tế từ thị trường không sai, mà vấn đề nằm ở cách thức xử lý dữ liệu đầu vào. Thực tế hiện nay, giá trúng đấu giá vẫn được ưu tiên sử dụng làm đầu vào so sánh trực tiếp như giá giao dịch thông thường. Người hành nghề hầu hết mới chỉ thực hiện điều chỉnh cho các yếu tố khác biệt về đặc điểm (như vị trí, hướng, lộ giới, mặt tiền,…) giữa tài sản được định giá và tài sản so sánh (TSSS); mà bỏ qua bước điều chỉnh loại bỏ phần “giá trị riêng” đang ẩn trong giá trúng đấu giá. Bỏ quên bước điều chỉnh này có thể gây ra sự “lệch pha” nghiêm trọng về cơ sở giá trị, khiến kết quả ước tính không còn phản ánh giá trị thị trường.

Giới khoa học dữ liệu có câu châm ngôn kinh điển: “Garbage in, garbage out” (GIGO) - dữ liệu đầu vào méo mó thì chắc chắn kết quả đầu ra cũng bị sai lệch. Một mô hình hay công cụ dù có tinh vi hiện đại đến đâu, cũng không thể bù đắp cho tập dữ liệu tồi. Việc nạp các dữ liệu chệch dương mà thiếu khâu làm sạch, sẽ chỉ cho ra kết quả đẹp về hồ sơ nhưng sai về bản chất. Do vậy, nếu không chuẩn hóa khâu xử lý dữ liệu (trong đó có việc bóc tách phần giá trị riêng), thì ngay cả khi bỏ quy định định giá theo nguyên tắc thị trường, dữ liệu đầu vào sai lệch làm biến dạng kết quả tính toán, kéo mặt bằng giá đất lên cao.


26/09/2026

Rào cản và thách thức trong đào tạo chuyên ngành Thẩm định giá định hướng ứng dụng ở Việt Nam (Kỳ 1)


KỲ 1: HIỂU ĐÚNG VỀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Trong phần lớn các lý thuyết hiện đại về tăng trưởng kinh tế, vốn con người (human capital) được coi là một nhân tố quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của một quốc gia (Wilkinson & Chirot, 2010). Các nghiên cứu hiện đại của các học giả nổi tiếng về tăng trưởng đều nhấn mạnh vào việc đầu tư vào vốn con người và đầu tư vào giáo dục có thể kể đến như Theodore Schultz (Nobel Kinh tế 1979), Gary Becker (Nobel Kinh tế 1992), Robert Lucas (Nobel Kinh tế 1995) và gần đây nhất là Paul Romer (Nobel Kinh tế 2018) với lý thuyết tăng trưởng nội sinh, trong đó cho rằng, tăng trưởng kinh tế là nhờ tiến bộ công nghệ, mà tiến bộ công nghệ có nguồn gốc từ đầu tư vào nguồn vốn con người và hoạt động nghiên cứu triển khai.

Trên thế giới, nhiều trường đại học đã xây dựng chương trình đào tạo trang bị cho người học rất nhiều kỹ năng hữu ích đáp ứng được đòi hỏi của ngành trong tương lai, trước khi nhu cầu trên thị trường lao động về các kỹ năng này trở nên phổ biến. Nói về nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, trước hết cần phải lưu ý rằng, trong một thế giới thay đổi nhanh chóng, chịu tác động mạnh mẽ của CMCN 4.0 và quá trình toàn cầu hóa, những kỹ năng cần thiết cho một công dân thế kỷ 21 như một chuyên gia trong lĩnh vực thẩm định giá cũng thay đổi nhanh chóng. Wilkinson & Chirot (2010) cho rằng, đào tạo theo nhu cầu hiện tại của doanh nghiệp không thể coi là một triết lý giáo dục tối thượng. Ngay cả khi cố gắng xây dựng một chương trình đào tạo ứng dụng nhằm tạo ra những người có khả năng sẵn sàng làm việc ngay tại doanh nghiệp, “các kỹ năng chuyên ngành có thể trở thành lỗi thời rất nhanh, trên cơ sở những xu hướng công nghệ và thị trường mà các công ty không thể dự đoán trước”.

Với các tổ chức “tập trung vào giảng dạy” (teaching-focussed institutions), các cơ sở này không định hướng thực hành trong giảng dạy mà cũng không định hướng nghiên cứu. Các trường đại học khai phóng ở Mỹ là những ví dụ điển hình vì họ xây dựng chương trình giảng dạy đại cương, chú trọng vào các kỹ năng chung thay vì nội dung nghề nghiệp hoặc chuyên môn. Họ định vị về cam kết giảng dạy và hầu như không thực hiện bất kỳ nghiên cứu nào. Có những loại tổ chức giảng dạy khác, ví dụ, những tổ chức thiên về học thuật. Phần lớn các trường đại học ở các nước đang phát triển rơi vào loại này theo mặc định, đơn giản vì họ không có nguồn lực để hoạt động nghiên cứu. Trong nhiều trường hợp như vậy, việc giảng dạy của họ được định nghĩa rộng rãi theo các ngành học (Sachi Hatakenaka, 2008).

Tuy nhiên trên thực tế, dường như các chương trình giáo dục đại học nói chung và các chương trình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, của thị trường lao động và những yêu cầu ngày càng cao trong thời đại toàn cầu hóa, trong một thế giới ngày cảng phẳng và bất định. Ngày càng nhiều gia đình chọn giải pháp gửi con ra nước ngoài học đại học với kỳ vọng con cái họ sẽ nhận được những năng lực và phẩm chất cần thiết để có thể thành công trong một nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi hết sức nhanh chóng (Wilkinson & Chirot, 2010). Những ý kiến phàn nàn như “Chất lượng giáo dục thấp hoặc kiến thức và kỹ năng ở trường không đáp ứng yêu cầu thị trường” xuất hiện rất phổ biến trên phương tiện truyền thống đại chúng, qua ý kiến của các chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước, qua ý kiến phản ánh của doanh nghiệp, cũng như tạo nên thành kiến sâu sắc trong xã hội về chất lượng giáo dục. Chuyên ngành Thẩm định giá là một ngành học mới ở Việt Nam, do đó không tránh khỏi những khoảng cách trong đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động, không chỉ nhu cầu hiện tại mà còn tương lai. Để đánh giá đúng về một chương trình đào tạo Thẩm định giá định hướng ứng dụng ở bậc Đại học, trước hết cần xác định được các mục tiêu, tiêu chí làm nên một chương trình định hướng ứng dụng tốt, trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ thảo luận về các tiêu chí làm nên một chương trình đào tạo chuyên ngành thẩm định giá định hướng ứng dụng.

Chương trình đào tạo đại học định hướng ứng dụng trên thế giới

Theo Sachi Hatakenaka (2008), phân cấp các trường ĐH trên thế giới được tóm tắt trong hình dưới đây:

Nguồn: Sachi Hatakenaka, 2008 tại Hội nghị hàng năm về kinh tế phát triển của Ngân hàng Thế giới tại Cape Town - Nam Phi vào tháng 6, 2008

Ô trên cùng bên phải là các trường đại học 'nghiên cứu ứng dụng' (relevant research universities) nơi tiến hành nghiên cứu cơ bản, nhưng có xem xét đến tính ứng dụng với xã hội. Họ cam kết với khoa học cơ bản, nhưng cũng quan tâm đến việc tạo ra các nghiên cứu hữu dụng và cố gắng duy trì đáp ứng các nhu cầu kinh tế xã hội. Đáng ngạc nhiên là không có nhiều tổ chức phù hợp với loại hình này. Một ví dụ chính là một nhóm các trường đại học nghiên cứu của Mỹ, đã phát triển dựa trên giá trị của sự phù hợp (Geiger 2004b, Rosenberg và Nelson 1994, Mazzoleni và Nelson 2007). Khi các trường đại học Mỹ trở thành niềm ghen tị của thế giới vì những đóng góp của họ trong ngành công nghệ cao như công nghệ sinh học và công nghiệp CNTT, ban đầu thế giới nhìn vào tất cả các trường đại học của Mỹ như thể họ đều giống nhau. Theo thời gian, rõ ràng là ngay trong hệ thống của Mỹ, có nhiều loại trường đại học khác nhau và chỉ một nhóm các trường đại học nghiên cứu đóng vai trò chủ động trong đổi mới công nghiệp nói chung và phát triển ngành công nghệ cao nói riêng. Một số trường đại học của Israel dường như cũng thuộc nhóm này, dường như họ ít chú trọng hơn vào khoa học cơ bản và tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu ứng dụng. Ô trên cùng bên trái là các trường đại học 'nghiên cứu cơ bản' (basic research universities), chủ yếu vận hành xung quanh các giá trị cốt lõi của khoa học cơ bản, ít quan tâm hoặc ít có khả năng đáp ứng nhu cầu bên ngoài. Đây là nơi thuộc về các trường đại học cổ điển trên tháp ngà học thuật với khả năng nghiên cứu phát triển tốt; thực sự là phần lớn các trường đại học nghiên cứu trên thế giới thuộc về nhóm này, ít nhất là cho đến gần đây, khi kinh tế ứng dụng (economic relevance) trở thành một câu cửa miệng toàn cầu. Những tổ chức này coi trọng khoa học tiên tiến, khen thưởng các khám phá khoa học và khuyến khích các học giả tích cực xác định hướng nghiên cứu khoa học. Các phát triển khoa học phải độc lập với các yêu cầu thực tế, vì những phát triển sau này được coi là có ảnh hưởng "phi đạo đức" đối với khoa học. Thật vậy, cho đến những năm 1990, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều khao khát được xếp vào nhóm này. Nhiều trường đại học quốc gia Nhật Bản đã phát triển để phù hợp với nhóm này, mặc dù nguồn gốc của chúng là các trường đại học ứng dụng - như sẽ được thảo luận ở phần sau.

Ô dưới cùng bên phải bao gồm các tổ chức 'định hướng thực hành" (practically oriented). Đặc điểm chính của các tổ chức này là họ mong muốn đáp ứng các nhu cầu về kỹ năng thực hành và kiến thức thực tế của nền kinh tế. Họ cung cấp các khóa học ứng dụng cho các chủ doanh nghiệp và thường tiến hành tư vấn và nghiên cứu định hướng ứng dụng cùng với DN hoặc cho DN. Tuy nhiên, họ ít quan tâm hoặc ít có năng lực về kiến thức khoa học tổng quát xa hơn hoặc nghiên cứu cơ bản. Các ví dụ rất đa dạng; họ bao gồm các trường đại học Grandes Ecoles ở Pháp (mặc dù họ bắt đầu phát triển năng lực nghiên cứu cơ bản gần đây), được thiết kế để cung cấp giáo dục chuyên nghiệp, và nhiều trường bách khoa và các trường tương tự ở các nước khác. Cả Ireland và Phần Lan đều cải cách các lĩnh vực giáo dục đại học của họ bằng cách giới thiệu loại hình tổ chức này. Về mặt lịch sử, các trường đại học quốc gia Nhật Bản sẽ thuộc về nhóm này khi thành lập vì chúng được thành lập để cung cấp các kỹ năng công nghệ quan trọng cần thiết cho quá trình hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, cam kết đem 'khoa học' vào thực tế sẽ khiến họ có vị trí cao hơn so với các trường thương mại truyền thống vốn tập trung vào mọi kỹ năng thực tế hơn là những kiến thức khoa học. Nhiều trường đại học Trung Quốc dường như cũng đã phát triển theo hướng ô bên phải để trở nên thực dụng hơn trong 20 năm qua. Một số tổ chức phù hợp với nhóm này một cách tự nhiên nhờ sự chú trọng vào tổ hợp môn học theo định hướng ứng dụng; các tổ chức kỹ thuật như Viện Công nghệ Ấn Độ là những ví dụ điển hình.

Ô dưới cùng bên trái là các tổ chức 'tập trung vào giảng dạy' (teaching-focussed institutions), các cơ sở này không định hướng thực hành trong giảng dạy mà cũng không định hướng nghiên cứu. Các trường đại học khai phóng ở Mỹ là những ví dụ điển hình vì họ xây dựng chương trình giảng dạy đại cương, chú trọng vào các kỹ năng chung thay vì nội dung nghề nghiệp hoặc chuyên môn. Họ định vị về cam kết giảng dạy và hầu như không thực hiện bất kỳ nghiên cứu nào. Có những loại tổ chức giảng dạy khác, ví dụ, những tổ chức thiên về học thuật. Phần lớn các trường đại học ở các nước đang phát triển rơi vào loại này theo mặc định, đơn giản vì họ không có nguồn lực để hoạt động nghiên cứu. Trong nhiều trường hợp như vậy, việc giảng dạy của họ được định nghĩa rộng rãi theo các ngành học (Sachi Hatakenaka, 2008).

Chương trình đào tạo đại học định hướng ứng dụng ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại ba chương trình đào tạo: chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu; chương trình đào tạo định hướng ứng dụng; chương trình đào tạo định hướng thực hành, được nêu tại Nghị định số 73/2015/NĐ-CP: 

4. Chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu là chương trình đào tạo có mục tiêu và nội dung xây dựng theo hướng chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học, phát triển các công nghệ nguồn làm nền tảng để phát triển các lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ.

5. Chương trình đào tạo định hướng ứng dụng là chương trình đào tạo có mục tiêu và nội dung xây dựng theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người.

6. Chương trình đào tạo định hướng thực hành là chương trình đào tạo có mục tiêu và nội dung xây dựng theo hướng tập trung vào việc thực hiện các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, sản xuất, chế tạo các công cụ phục vụ sản xuất và đời sống dựa trên cơ sở những thiết kế có sẵn.

(Điều 2, Nghị định 73/2015/NĐ-CP)

Trong đó, chương trình đào tạo định hướng ứng dụng và chương trình đào tạo định hướng thực hành dường như đang làm nhiều nhà giáo dục bối rối và nhầm lẫn. Việc cần rạch ròi giữa “đào tạo định hướng ứng dụng” và “định hướng thực hành” là vô cùng cần thiết. Mọi sự nhầm lẫn khi một cơ sở giáo dục nào đó đang đào tạo theo hướng thực hành nhưng lại nghĩ hoặc cho rằng đang đào tạo theo định hướng ứng dụng hoặc ngược lại đều dẫn tới sự lệch pha và xa rời sứ mệnh đào tạo.

Bảng so sánh giữa cơ sở định hướng ứng dụng và định hướng thực hành

Tiêu chí

Tiêu chuẩn cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng (Điều 4 NĐ 73)

Tiêu chuẩn cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành (Điều 5 NĐ 73)

1. Vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục đại học

 

Là cơ sở giáo dục đại học đào tạo đội ngũ nhân lực chủ yếu theo hướng ứng dụng; nghiên cứu khoa học và công nghệ tập trung vào việc phát triển các kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng của con người; có năng lực chủ trì nghiên cứu, giải quyết những nhiệm vụ, đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia và tham gia nghiên cứu, giải quyết những nhiệm vụ, đề tài khoa học và công nghệ khu vực và quốc tế.

Là cơ sở giáo dục đại học chú trọng đào tạo, phát triển năng lực thực hành của người học, gắn kết đào tạo với thực tế sản xuất; nghiên cứu khoa học và công nghệ tập trung theo hướng triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng đã đạt được vào thực tiễn cuộc sống; cung cấp nguồn nhân lực có kiến thức thực tiễn và năng lực thực hành phù hợp với yêu cầu sử dụng lao động đa dạng của các địa phương và các vùng, các tổ chức kinh tế.

2. Quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo

 

a) Quy mô đào tạo của các chương trình đào tạo định hướng ứng dụng trình độ đại học, thạc sĩ chiếm ít tỷ lệ lớn nhất trong tổng quy mô đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học;

b) Ngành nghề đào tạo đa dạng, linh hoạt theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế;

c) Đào tạo chủ yếu trình độ đại học và trình độ thạc sĩ ứng dụng; một số ít chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ nghiên cứu và trình độ tiến sĩ.

a) Quy mô đào tạo các chương trình đào tạo định hướng thực hành chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quy mô đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học;

b) Ngành nghề đa dạng, tập trung vào các lĩnh vực mà địa phương có nhu cầu; chương trình đào tạo được thiết kế liên thông với chương trình giáo dục nghề nghiệp;

c) Đào tạo trình độ đại học là chủ yếu.

3. Cơ cấu hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ

a) Có hệ thống phòng thí nghiệm nghiên cứu phát triển, cơ sở sản xuất thử nghiệm, trung tâm ươm tạo công nghệ;

b) Tỷ lệ chi cho hoạt động khoa học công nghệ chiếm ít nhất 20% tổng chi cho các hoạt động hằng năm của cơ sở giáo dục đại học;

c) Hằng năm tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu tham gia nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ có kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học công nghệ chuyên ngành trong và ngoài nước hoặc chuyển giao công nghệ, ứng dụng vào thực tế trên tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học không thấp hơn 70%;

d) Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 15% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học;

đ) Tỉ lệ bình quân sinh viên/giảng viên trong toàn cơ sở giáo dục đại học không quá 25. 

a) Tỷ lệ chi cho hoạt động khoa học công nghệ, sản xuất thử nghiệm, phát triển sản phẩm mới không thấp hơn 10% tổng chi cho các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học;

b) Hằng năm có ít nhất 30% giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học tham gia các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và thực tế sản xuất hoặc thực hiện các nhiệm vụ, đề tài khoa học công nghệ, có công trình được công bố;

c) Có ít nhất 10% khối lượng của các chương trình đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học do các chuyên gia, doanh nhân, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, nhà quản lý có kinh nghiệm từ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở trong nước và nước ngoài tham gia giảng dạy, báo cáo chuyên đề

Tiêu chí thứ 3 có những khác biệt quan trọng đáng chú ý giữa 2 cơ sở. Rất nhiều người đang nhầm lẫn rằng mời chuyên gia, doanh nhân, quản lý, người làm thực tế từ DN đến giảng dạy với tỷ trọng lớn thì mới là định hướng ứng dụng. Thực ra đó có thể là định hướng thực hành. Tất nhiên sự hợp tác giữa trường học và doanh nghiệp trong việc tìm hiểu nhu cầu, hợp tác đào tạo cũng như triển khai nghiên cứu định hướng ứng dụng là rất quan trọng. Doanh nghiệp là nguồn dữ liệu, là kho tàng tình huống để trường ĐH có thể mổ xẻ, nghiên cứu tìm giải pháp đưa các kiến thức, phương pháp, công cụ định giá mới nhất từ nghiên cứu cơ bản vào ứng dụng trong thực tiễn.

Tuy nhiên sự phân cấp như trên mới chỉ là theo văn bản pháp luật. Trên thực tế hiện nay chưa có trường Đại học nào ở Việt Nam xây dựng chương trình đào tạo định hướng thực hành (ít nhất là trên khía cạnh tuyên bố/công bố của các trường, còn trên thực tế có những trường tuyên bố xây dựng chương trình định hướng ứng dụng nhưng thực tế lại là chương trình định hướng thực hành). Nếu xét ở khía cạnh thực tế hiện nay, định hướng thực hành dường như là “phân khúc” của các trường cao đẳng. Tiến sĩ Lê Viết Khuyến, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, Bộ GD-ĐT cho rằng “…định hướng thực hành sẽ là sứ mệnh của các trường CĐ. Khi tham gia soạn thảo luật, các chuyên gia cũng có ý tưởng học tập cách làm này. Nhưng sau này lại có luật Giáo dục nghề nghiệp, hệ thống CĐ được tách ra khỏi hệ thống ĐH. Nghị định 73 ra đời sau khi có luật Giáo dục nghề nghiệp, lẽ ra chỉ nên chia ĐH thành 2 tầng. Đằng này vẫn cứ bê nguyên xi luật Giáo dục ĐH vào, thành thử đẻ thêm một loại ĐH thực hành mà không ai hình dung được diện mạo nó sẽ ra sao” (Báo Thanh Niên, 2015).

Ở Việt Nam hiện nay chưa có trường nào xây dựng chương trình đào tạo Đại học theo định hướng thực hành, như vậy nếu coi như định hướng thực hành là sứ mệnh của các trường Cao đẳng, thì mục tiêu của đào tạo định hướng thực hành sẽ nhất quán với mục tiêu đào tạo nghề nghiệp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014.

Mục tiêu giáo dục nghề nghiệp:

1. Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.

2. Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của giáo dục nghề nghiệp được quy định như sau:

a) Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề;

b) Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm;

c) Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc.

 Tóm lại, việc xác định rõ mục tiêu, đầu ra và những tiêu chí của một chương trình đào tạo định hướng ứng dụng càng cụ thể, rõ ràng bao nhiêu thì việc xây dựng chương trình định hướng ứng dụng sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu, tránh được những sai lầm cơ bản khi một cơ sở giáo dục nào đó xây dựng chương trình thực hành nhưng lại nghĩ rằng họ đang xây dựng chương trình ứng dụng (lấn sân các trường cao đẳng ?!).

Nhận diện chương trình đào tạo chuyên ngành Thẩm định giá định hướng ứng dụng

Như vậy, tham chiếu theo Nghị định 73/2015/NĐ-CP, có thể rút ra một số tiêu chí chung của một chương trình đào tạo thẩm định giá định hướng ứng dụng như sau:

  • Vai trò và mục tiêu: Đào tạo nhân lực định hướng ứng dụng các phương pháp, mô hình định giá, các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn công tác định giá tài sản. Bên cạnh đó, chuyên ngành cần phát triển các kết quả nghiên cứu cơ bản của chuyên ngành và các ngành liên quan thành các nghiên cứu ứng dụng để giải quyết vấn đề thực tiễn trong định giá tài sản, xây dựng thành một phương pháp, quy trình khoa học.
  • Tỷ lệ giảng viên tham gia vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ có kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học công nghệ chuyên ngành trong và ngoài nước hoặc chuyển giao công nghệ, ứng dụng vào thực tế không thấp hơn 70%.
  • Tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển không thấp hơn 20% tổng chi cho các hoạt động hàng năm.
  • Tỷ lệ sinh viên/giảng viên của chuyên ngành không quá 25.
  • Tỷ lệ giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không thấp hơn 15% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học

KỲ 2: LỆCH PHA DỮ LIỆU – KHỞI ĐẦU CỦA "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ"

KỲ 2: LỆCH PHA DỮ LIỆU – KHỞI ĐẦU CỦA "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ" Tác giả: Dương Thành Đạt   I.  Sự lệch pha dữ liệu: khi giá trúng đấ...