10/10/2026

QUY HOẠCH: HẢI PHÒNG NÊN DỒN LỰC PHÁT TRIỂN NÉN HAY CHIA NHỎ NGUỒN LỰC CHO MÔ HÌNH ĐA CỰC?

QUY HOẠCH: HẢI PHÒNG NÊN DỒN LỰC PHÁT TRIỂN NÉN HAY CHIA NHỎ NGUỒN LỰC CHO MÔ HÌNH ĐA CỰC ?

Tác giả: Dương Thành Đạt


Sau khi hợp nhất tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng (theo Nghị quyết 202/2025/QH15), Hải Phòng đứng trước một thời khắc lịch sử để tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển trên diện tích 3.194,72 km² với dân số quy đổi khoảng 4,66 triệu người. Để định hình khung cấu trúc và phân bổ không gian phát triển tương xứng với vị thế mới, Dự thảo "Thuyết minh tóm tắt Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075" đã đưa ra 03 phương án:

 Các phương án được đưa ra

Lý do chọn/không chọn

Phương án 1 (Đơn cực mở rộng): Lấy khu vực đô thị Hải Phòng hiện hữu làm trung tâm phát triển duy nhất, toàn bộ hoạt động hành chính, dịch vụ, tài chính tập trung tại đây;

Không gian mở rộng chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dân số và công nghiệp, khu vực Hải Dương đóng vai trò vùng hậu phương công nghiệp - nông nghiệp

.

 

·       Cấu trúc không gian mang tính hướng tâm với một trung tâm duy nhất. Các hoạt động phát triển tập trung chủ yếu tại khu vực Hải Phòng hiện hữu, dẫn đến nguy cơ quá tải hạ tầng lõi Hải Phòng cũ (ùn tắc, ngập lụt, ô nhiễm)

·       Không khai thác được lợi thế rất lớn của không gian Hải Dương sau sáp nhập, làm giảm hiệu quả sử dụng quỹ đất và hệ thống hạ tầng đã đầu tư.

·       Không phù hợp với định hướng phát triển đa cực của Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng và Quy hoạch hệ thống đô thị quốc gia.

Phương án 2 (Hai trung tâm liên kết): Hình thành 2 trung tâm (Đông & Tây) tạo sự cân bằng trong phân bố không gian và khai thác hiệu quả hơn lợi thế của khu vực Hải Dương.

 

·       Phương án vẫn chủ yếu phát triển theo một trục duy nhất. Các khu vực: phía Bắc; ven biển; Nam Hải Phòng; chưa thực sự trở thành các cực tăng trưởng độc lập.

·       Liên kết vùng chưa được khai thác đầy đủ. Mô hình TOD và các hành lang kinh tế vẫn chưa hình thành rõ.

Phương án 3 (Đa cực – Đa trung tâm theo hệ thống kinh tế vùng: Tổ chức toàn thành phố thành một hệ thống kinh tế vùng bao gồm 02 trung tâm đô thị lớn (Trung tâm phía Đông & Trung tâm phía Tây) cách nhau khoảng 45–50km, được ngăn cách bởi một Dải sinh thái trung tâm (vùng đệm nông nghiệp/sông nước) và kết nối với nhau bằng các trục đường sắt tốc độ cao, metro, cao tốc và hệ thống đô thị nén TOD (Transit-Oriented Development)

Phát triển hệ thống đô thị đa cực, đa trung tâm, gồm các trung tâm cấp thành phố, các cực tăng trưởng, các trung tâm TOD và các khu đô thị chuyên đề.

·     Hai trung tâm đô thị: Trung tâm phía Tây; Trung tâm phía Đông.

·     Ba trục động lực: Trục Đông – Tây; Trục Bắc – Nam; Trục ven biển.

·     Ba trung tâm TOD: TOD Nam Hải Dương; TOD Ninh Xá; TOD Nam Hải Phòng.

·     Các TOD trở thành động lực phát triển đô thị mật độ cao gắn với giao thông công cộng.

·     Bốn khu kinh tế: KKT phía Bắc; KKT Đình Vũ – Cát Hải; KKT Nam Hải Phòng;

·     KKT chuyên biệt phía Tây.

·     Năm trục cảnh quan: sông Kinh Thầy; sông Bạch Đằng; sông Thái Bình; sông Văn Úc; sông Cấm. Các hành lang xanh này đồng thời là không gian sinh thái và cấu trúc cảnh quan chủ đạo của đô thị.

 

Ưu điểm: Phương án đáp ứng đồng thời các mục tiêu phát triển dài hạn của thành phố: phát huy tối đa lợi thế sau sáp nhập; hình thành cấu trúc đa cực phù hợp với quy mô đô thị mở rộng; tăng cường liên kết với Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên và vùng Đồng bằng sông Hồng; khai thác hiệu quả hệ thống cảng biển, logistics và kinh tế biển; phân bố hợp lý dân cư, việc làm và hạ tầng; giảm áp lực cho khu vực trung tâm hiện hữu; nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; phù hợp với định hướng phát triển đô thị biển quốc tế.

 

Hạn chế: Phương án đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, yêu cầu triển khai theo lộ trình và cần cơ chế điều phối vùng, quản trị đô thị hiện đại để bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các cực phát triển. Tuy nhiên, đây là những yêu cầu tất yếu đối với một đô thị quy mô lớn, có vai trò cực tăng trưởng quốc gia và trung tâm kinh tế biển quốc tế.

  

Dự thảo đề xuất chọn Phương án 3 (Mô hình Đa cực – Đa trung tâm theo hệ thống kinh tế vùng) làm cấu trúc không gian chủ đạo. Tuy nhiên thật khó có thể hình dung về mô hình cùng 1 thành phố mà 2 trung tâm đô thị lõi cách nhau tận 50km trong khi dân số chỉ vỏn vẹn hơn 4 triệu dân như vậy. Ngay cả Phố Đông (Pudong) và Phố Tây (Puxi) của Siêu đô thị Thượng Hải (quy mô dân số thường trú đạt khoảng 24,85 triệu người) cũng chỉ ngay hai bên bờ sông Hoàng Phố, cách nhau chỉ khoảng 1 km (trong khi đó trung tâm đô thị Tây Hải Phòng và Đông Hải Phòng cách nhau khoảng 50km, dân số thường trú chỉ bằng 1/6 Thượng Hải). Mặc dù diện tích hơn 6.300 km2 (gấp đôi Hải Phòng sau sáp nhập) nhưng Thượng Hải phát triển mở rộng theo dạng đô thị ven sông (river-crossing city expansion), nối nhau bằng hàng loạt cầu, hầm chui và tuyến metro dày đặc. Dân số tập trung với mật độ rất cao xung quanh hai bên bờ sông Hoàng Phố (khu vực Phố Tây truyền thống và Phố Đông phát triển mới).

Trong thuyết minh đồ án Quy hoạch chung của Hải Phòng có tiếp thu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế theo mô hình Seoul-Incheon và Tokyo – Yokohama.

 Hình mẫu

Cấu trúc

Bài học cho Hải Phòng

Seoul – Incheon, Hàn Quốc

Khoảng cách: khoảng 30–35 km.

 

Mô hình đô thị đa cực, Seoul giữ vai trò trung tâm điều hành – dịch vụ, Incheon là cửa ngõ quốc tế về cảng biển, hàng không và logistics, khu kinh tế tự do.

Hệ thống đường sắt, đường cao tốc và giao thông công cộng tạo liên kết chặt chẽ giữa các cực đô thị; khu kinh tế tự do Incheon hình thành trung tâm logistics, tài chính, công nghệ và dịch vụ quốc tế.

 

Tổ chức cấu trúc đa cực với phân công chức năng rõ ràng; tăng liên kết giữa các trung tâm bằng giao thông khối lượng lớn; gắn cảng biển, sân bay, logistics với các cực công nghiệp – dịch vụ và nâng cao vai trò cửa ngõ quốc tế

Tokyo – Yokohama, Nhật Bản

Khoảng cách: khoảng 30 km.

 

Mô hình đô thị đa trung tâm gắn với đường sắt và giao thông công cộng, đồng thời tái thiết các khu cảng, công nghiệp cũ thành các khu đô thị hỗn hợp, dịch vụ và không gian công cộng ven biển. Các trung tâm có chức năng riêng nhưng liên kết thành một hệ thống đô thị thống nhất.

→ Tokyo là trung tâm kinh tế – hành chính; Yokohama là đô thị cảng biển công nghiệp – du lịch. Cả hai kết nối thành vùng đô thị đa trung tâm thông qua mạng lưới đường sắt đô thị và tàu điện dày đặ

 

Phát triển đa trung tâm; tái thiết khu vực cảng – công nghiệp cũ; khai thác không gian ven sông, ven biển; gắn phát triển đô thị với đường sắt, TOD và bảo tồn bản sắc, cảnh quan

 Tuy nhiên, dưới góc nhìn phân tích kinh tế thực chứng, lựa chọn này chứa đựng những rủi ro cấu trúc lớn, có nguy cơ làm xé lẻ, manh mún thị trường, triệt tiêu hiệu ứng kinh tế theo quy mô (economies of scale) và dàn trải nguồn lực không cần thiết. 

Suy nghĩ về vấn đề này, tôi có 4 ý kiến phản biện dưới đây:

1. SỰ KHIÊN CƯỠNG VỀ MẶT LÝ LUẬN KHI ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH QUỐC TẾ (SEOUL-INCHEON, TOKYO-YOKOHAMA)

Dự thảo báo cáo quy hoạch viện dẫn mô hình đô thị cảng vùng của Seoul – Incheon (Hàn Quốc) hay Tokyo – Yokohama (Nhật Bản) để làm cơ sở cho Phương án 3. Tuy nhiên, việc áp dụng này có phần khiên cưỡng về mặt lịch sử phát triển kinh tế:

  • Bản chất phát triển đơn cực tích tụ trước khi lan tỏa: Tokyo và Seoul là 2 thủ đô của quốc gia tư bản phát triển. Cả Tokyo và Seoul đều trải qua hàng thập kỷ phát triển đô thị theo mô hình đơn cực tích tụ (monocentric aggregation). Nhật Bản và Hàn Quốc đã dồn toàn bộ nguồn lực quốc gia để tạo nên một siêu đại đô thị lõi hàng chục triệu dân, đạt đến "khối lượng tới hạn" (critical mass) về mật độ kinh tế, tầng lớp trung lưu và thị trường tiêu dùng sầm uất. Chỉ khi đô thị lõi phát triển quá tải, họ mới bước sang giai đoạn 2 là lan tỏa đa cực sang Incheon hay Yokohama. Giai đoạn phát triển này mới là sự kết nối giữa 1 trung tâm đô thị lớn, thị trường rộng lớn có sẵn với 1 khu vực đô thị mới. Chứ ko phải là phát triển đa cực từ đầu trên cơ sở 2 thành phố đều bình bình như nhau, dân cư dàn trải, nguồn lực mỏng.
  • Hải Phòng chưa đủ mật độ dân cư của một đại đô thị: Hải Phòng không phải thủ đô, không có lợi thế quy tụ dân cư cũng như nguồn lực tài chính toàn quốc như các thủ đô. Dân số đô thị Hải Phòng hiện mới chỉ hơn 2 triệu người (và tương đương với tỉnh Hải Dương cũ).
  • Bài học Thâm Quyến và Thượng Hải: Trung Quốc tạo bứt phá không phải bằng cách chia nhỏ nguồn lực ngay từ đầu. Họ dồn toàn bộ dòng vốn cho Thâm Quyến hay Thượng Hải phát triển rực rỡ, trở thành siêu đô thị có sức hút mãnh liệt, rồi từ đỉnh cao thành công đó mới quay lại lan tỏa và gánh vác các vùng xung quanh. Hiểu đơn giản là giống như một gia đình nghèo đông con, dồn hết tiền cho 1 đứa con tiềm năng nhất đi học Đại học, học giỏi bứt phá hẳn để thành công. Rồi khi thành công, đứa con đó quay lại giúp đỡ, phát triển cuộc sống cho những đứa con khác. Nếu chỉ có 1 chút xíu tiền, chia đều cho tất cả các con rồi chẳng đứa nào bứt phá được với chút tiền còm đó.

Do vậy việc chia nguồn lực và dân số dàn mỏng cho hai trung tâm cách nhau 50km ngay từ đầu giống như "một cọc tiền nhỏ chia làm hai túi", không đủ đến khiến một trung tâm nào có thể bứt phá.


2. PHÂN MẢNH TRONG ĐA CỰC VÀ NGUY CƠ BIẾN CÁC TOD, ĐÔ THỊ VỆ TINH THÀNH CÁI TÊN MỚI, NHƯNG BẢN CHẤT CHỈ LÀ "THỊ TRẤN, THỊ XÃ"

Phương án 3 kỳ vọng hệ thống đường sắt tốc độ cao hay Metro M5 sẽ kết nối các "Hạt nhân TOD" hay "Trung tâm đô thị mới" (như TOD Nam Hải Dương, TOD Tứ Kỳ, TOD Ninh Xá...) thành một cấu trúc liên kết sầm uất. Tuy nhiên, việc "thay tên đổi họ" trên bản đồ quy hoạch không làm thay đổi được bản chất vận hành kinh tế nếu thiếu đi sự dồn tụ dân cư:

  • Giao thông nhanh không tạo ra thị trường tiêu dùng tại chỗ: Việc đi tàu nhanh hơn giúp người dân di chuyển dễ dàng hơn, nhưng không thể biến hai vùng địa lý cách nhau 50km thành một thị trường tiêu dùng thống nhất. Người dân không thể đi tàu hỏa 50km từ Hải Dương sang Hải Phòng chỉ để mua sắm món đồ sinh hoạt rồi đi về nhà trong ngày.
  • Thiếu mật độ nén để tạo ra trung tâm thương mại đúng nghĩa: Một mô hình TOD hay trung tâm đô thị đa cực chuẩn quốc tế đòi hỏi mật độ dân cư cực kỳ lớn ngay tại chỗ (bán kính 500m–1km) để nuôi sống các tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại cao tầng và dịch vụ tài chính. Khi dân số bị chia mỏng ra nhiều cực, dịch vụ cao cấp hoàn toàn không có lực cầu để tồn tại.
  • Nguy cơ thoái hóa về mô hình "thị trấn, thị xã" kiểu cũ: Khi thiếu vắng tầng lớp tiêu dùng quy mô lớn, các "trung tâm đa cực" vẽ trên bản đồ sẽ tự động co cụm về đúng hình thái phát triển quen thuộc: chợ dân sinh, quán ăn nhỏ, cửa hàng tạp hóa, dịch vụ sửa chữa lẻ... Đây chính là cấu trúc của các thị trấn, thị xã cấp huyện kiểu cũ đã tồn tại hàng chục năm qua — nơi ban ngày thưa thớt, ban đêm đìu hiu và vắng bóng hoàn toàn không khí hoạt động kinh tế sầm uất.
  • Tránh hiện tượng đô thị hóa "trên giấy": Báo cáo thừa nhận nhiều khu vực đã lên phường, lên đô thị trên giấy nhưng thực tế vẫn mang cấu trúc làng xã, thiếu vắng người ở. Nếu tiếp tục mở rộng ra xa khi vùng lõi chưa lấp đầy, thành phố sẽ lặp lại hiện tượng đô thị hóa vỏ bọc.
  • Hệ quả bất động sản phân lô bỏ hoang: Nhìn vào thực tế các "khu đô thị mới" ở cấp huyện hiện nay, khi chủ đầu tư vẽ ra phân khu thương mại hoành tráng nhưng không có dân về ở, tất cả nhanh chóng biến thành những dãy nhà phố đìu hiu, phân lô bán nền để đầu cơ. Việc chia nhỏ thành nhiều cực vệ tinh khi dân số chưa đủ đông sẽ lặp lại chính vết xe đổ này trên quy mô toàn thành phố.

3. QUỸ ĐẤT VÙNG LÕI HIỆN HỮU CÒN NHIỀU VÀ SỰ LỆCH PHA TRONG ĐỊNH HƯỚNG CỤM NGÀNH

Đồ án cho rằng cần đẩy bớt chức năng ra phía Tây để tránh quá tải lõi Hải Phòng cũ. Nhưng số liệu thực tế trong báo cáo lại chỉ ra điều ngược lại:

  • Dư địa đất vùng lõi Hải Phòng cũ còn rất nhiều nếu chỉ phục vụ dân sinh, dân cư: Đất nông nghiệp hiện vẫn chiếm tới 56,99% toàn thành phố, trong khi đất ở đô thị mới chỉ chiếm 3,68%. Ngay trong lòng nội đô Hải Phòng cũ, đất ruộng, đất vườn, đất xen kẹt, các đô thị mới được xây dựng còn rất lớn và vắng người ở. Vùng lõi Hải Phòng hoàn toàn có đủ sức chứa để quy hoạch nén, cải tạo và hấp thụ thêm hàng triệu dân mà không cần phải vội vã dàn trận ra xa ngay từ đầu.
  • Chưa bám sát thực trạng phân bố cụm ngành: Đồ án định hướng Trung tâm phía Tây (Hải Dương) đảm nhận vai trò công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Thế nhưng thực tế, hầu hết các tập đoàn công nghệ cao, điện tử và FDI lớn nhất (LG tại Tràng Duệ, Pegatron, DEEP C, VSIP) đều đang hội tụ tại Hải Phòng cũ. Hải Dương thực chất đóng vai trò là hậu phương công nghiệp chế tạo, lắp ráp và cung cấp lao động. Bên cạnh đó, báo cáo cũng đưa ra định hướng phát triển Hải Dương phát triển thành trung tâm giáo dục-y tế. Trong gia đình, việc đầu tư dồn tiền cho đứa con nào đi học đều phải dựa trên năng lực thực sự, đứa con đó có học được ko, có tối ưu được số tiền đầu tư đó không.

Vì vậy cần xem xét thực tế là Hải Dương không có năng lực cạnh tranh về y tế và giáo dục. Lượng sinh viên và trường Đại học chất lượng gắn với các viện nghiên cứu vùng, thị trường việc làm vẫn nằm ở Hải Phòng cũ. Bệnh viên chất lượng, bác sĩ chất lượng ở Hải Phòng cũ và chỉ có người Hải Dương cũ đến Hải Phòng khám chữa bệnh, chứ không phải chiều ngược lại. Vậy cơ sở nào để biến thành trung tâm y tế, giáo dục, công nghệ cao của Hải Phòng khi vốn dĩ lợi thế cạnh tranh này đang nằm tại Hải Phòng cũ.

Đừng nhầm lẫn giữa Trung tâm và cơ sở 2. Cơ sở 2 của Trung tâm thì không phải là trung tâm (center). Thiết nghĩ cần đánh giá đúng năng lực cạnh tranh và lợi thế của Hải Dương để phát huy thực sự những tiềm năng này, thay vì cố nhặt ra những keyword mỹ miều.


4. RỦI RO THỰC THI TỪ BẪY KỲ VỌNG VÀO HẠ TẦNG GIAO THÔNG KẾT NỐI

Toàn bộ sự thành bại của Phương án 3 được đặt lên vai hệ thống giao thông kết nối tốc độ cao (Đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đường sắt vùng M5, các tuyến Metro).

  • Kịch bản khi hạ tầng chậm tiến độ: Thực tế phát triển hạ tầng đường sắt đô thị và liên vùng thường mất rất nhiều thời gian. Nếu các tuyến đường sắt nối Đông – Tây bị chậm tiến độ 10–15 năm, khoảng cách 50km di chuyển bằng đường bộ ùn tắc sẽ biến Phương án 3 thành một thảm họa phân tán. Hai khu vực sẽ bị chia cắt về địa lý, từ đó dẫn tới các hệ quả về mặt kinh tế, khiến các vùng đô thị mới có thể rơi vào trạng thái vắng bóng người ở.

LỜI KẾT & ĐỀ XUẤT: TẬP TRUNG MÔ HÌNH NÉN, MỘT TRUNG TÂM ĐƠN CỰC TRƯỚC – MỞ RỘNG ĐA CỰC SAU

Để Hải Phòng thực sự trở thành một cực tăng trưởng bứt phá của cả nước, thiết nghĩ thành phố nên cân nhắc điều chỉnh tiến độ phát triển theo lộ trình thực tế hơn:

  1. Giai đoạn 2026–2050 (Tập trung vùng lõi): Tạm dừng việc phân tán nguồn lực ra các cực mới ở xa. Tập trung toàn bộ nguồn lực ngân sách để dồn nén, tái thiết và phát triển rực rỡ Vùng lõi Hải Phòng hiện hữu. Hãy biến Hải Phòng cũ thành một "Đại đô thị cảng biển nén", phủ kín các quỹ đất xen kẹt, tái thiết dải sông Cấm và nâng mật độ kinh tế lên mức tối đa để tạo ra một thị trường nội địa thực sự sầm uất.
  2. Quy hoạch Hải Dương đúng thế mạnh hậu phương: Phát triển Hải Dương thành Trung tâm công nghiệp hỗ trợ, Cảng cạn (ICD), Trung tâm phân phối logistics nội địa và Vùng nông nghiệp công nghệ cao cung cấp cho toàn vùng.
  3. Chỉ phát triển Đa cực khi Lõi đạt ngưỡng tới hạn (giai đoạn từ năm 2050-2075): Khi vùng lõi Hải Phòng cũ đạt quy mô dân số đô thị nén lớn, hạ tầng lõi xuất hiện dấu hiệu quá tải thực sự và các tuyến đường sắt kết nối Đông – Tây đã hoàn thành, thành phố mới tiến hành lan tỏa phát triển sang các cực vệ tinh.

Một thành phố mạnh không phải là thành phố vẽ ra nhiều trung tâm trên bản đồ, mà là thành phố biết tập trung nguồn lực để tạo ra một thị trường có sức hút mãnh liệt. Hải Phòng cần dồn lực để nuôi dưỡng vùng lõi thành một đại đô thị bứt phá vượt trội, khác biệt với các TPTTTW khác, từ đó mới có thể lan tỏa, phát huy vai trò đầu tầu kéo toàn bộ kinh tế vùng đi lên.

 

01/10/2026

KỲ 2: LỆCH PHA DỮ LIỆU – KHỞI ĐẦU CỦA "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ ĐẤT"

KỲ 2: LỆCH PHA DỮ LIỆU – KHỞI ĐẦU CỦA "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ ĐẤT"

Tác giả: Dương Thành Đạt

 I.  Sự lệch pha dữ liệu: khi giá trúng đấu giá được dùng làm căn cứ so sánh trực tiếp để ước tính Giá trị thị trường

Dù có ý kiến đề xuất bỏ quy định “định giá đất theo nguyên tắc thị trường”[1] vì đây được xem là nguyên nhân khiến giá đất tăng cao[2]. Nhưng dưới góc nhìn chuyên môn thẩm định giá, một trong những nguyên nhân chính của tình trạng giá đất bị đẩy lên cao trong thời gian qua không nằm ở việc xác định theo giá trị thị trường (market value), mà do thực trạng sử dụng mức giá giao dịch (market price) bị chệch cao làm dữ liệu so sánh.

Theo Điểm a, khoản 2, Điều 4, Nghị định 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2024 (được sửa đổi tại Nghị định 226/2025/NĐ-CP), “thông tin đầu vào để định giá đất là giá đất đã hoàn thành chuyển nhượng trên thị trường, giá đất đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính quy định…”.

Do thực trạng kê khai “hai giá”, giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng thường thấp hơn giá giao dịch thực tế, trở thành một ước lượng chệch âm (downward biased estimator) của giá trị thị trường. Để tránh nguy cơ định giá thấp tài sản của nhà nước, gây rủi ro trách nhiệm pháp lý nặng nề, hầu hết những người hành nghề định giá đều ưu tiên chọn sử dụng giá trúng đấu giá như căn cứ đáng tin cậy hàng đầu để làm dữ liệu so sánh. Từ đó xác định ra kết quả gọi là “giá trị thị trường của đất” dù về bản chất chuyên môn là không chính xác.

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (IVS), giá trị thị trường là số tiền ước tính để tài sản có thể được giao dịch tại thời điểm thẩm định giá giữa bên sẵn sàng mua và bên sẵn sàng bán, trong một giao dịch khách quan, độc lập, sau khi được marketing đầy đủ và các bên tham gia hành động có hiểu biết, thận trọng và không bị ép buộc.

Trong khi đó, đấu giá bản chất là phương thức để người bán bán được tài sản với giá cao nhất thông qua cạnh tranh giữa những người mua, từ đó hưởng một phần hoặc tối đa thặng dư tiêu dùng từ người có mức sẵn lòng chi trả cao nhất. Vì là kết quả của giao dịch thuận mua vừa bán thực tế trên thị trường, đôi khi giá trúng đấu giá thường bị ngộ nhận như một bằng chứng tốt về giá trị thị trường của tài sản. Tuy nhiên, giá trúng đấu giá chỉ là một dữ liệu giá cả thực tế quan sát được (Observed Price) và phản ánh mức sẵn lòng chi trả cao nhất của phiên đấu giá, không đồng nhất với Giá trị thị trường (Market Value).

Nền tảng Lý thuyết Đấu giá hiện đại được xây dựng bởi các học giả hàng đầu như William Vickrey (Nobel Kinh tế 1996), Robert Wilson và Paul R. Milgrom (Nobel Kinh tế 2020) đã chỉ rằng giá trị một tài sản đấu giá gồm 02 cấu phần: Giá trị chung (Common Value) — giá trị thực sự của tài sản giống nhau đối với tất cả mọi người, và Giá trị riêng (Private Value) — giá trị đặc thù phụ thuộc hoàn toàn vào sở thích, năng lực, lợi thế cá nhân của người mua và độc lập với những người mua khác.

Lời nguyền người chiến thắng (Winner's Curse) đề cập đến hiện tượng phổ biến trong các cuộc đấu giá, ở đó người thắng cuộc thường là người lạc quan nhất hoặc thiếu thông tin nhất, dẫn đến việc trả giá quá cao so với giá trị thực và thường phải gánh chịu thua lỗ sau đó.

Do vậy, dưới góc nhìn thống kê, trong các cuộc đấu giá có sự cạnh tranh đẩy giá lên, nếu không được điều chỉnh để loại bỏ phần giá trị riêng, giá trúng đấu giá có thể trở thành một ước lượng chệch dương (upward biased estimator) khi được sử dụng như đại diện trực tiếp cho giá trị thị trường chính tài sản đó. Việc nạp trực tiếp dữ liệu bị chệch dương này vào mô hình để làm căn cứ so sánh trực tiếp sẽ kích hoạt vòng lặp thổi phồng mặt bằng giá.

Nguồn: Tác giả tự minh họa

"Việc đánh đồng Private Value của cá nhân thành Common Value của toàn thị trường sẽ đưa đến hệ quả giá đất bị "bơm" vượt quá sức chịu đựng của nền kinh tế"

Mô hình hóa bằng lý thuyết đơn giản

Trong cuộc đấu giá, đường cung tài sản đấu giá được giả định thẳng đứng vì số lượng lô đất đấu giá là có hạn (N là số lô đất được đem ra đấu giá đồng thời). Đường cầu dốc xuống biểu thị mức giá tối đa mà từng người đấu giá chấp nhận trả, xếp theo dạng bậc thang, thứ tự từ cao đến thấp. Mức sẵn lòng chi trả WTP của người tham gia đấu giá sẽ chịu ảnh hưởng bởi giá khởi điểm (do quan niệm phổ biến rằng giá sơ cấp do nhà nước bán ra là hàng F0 giá rẻ, sẽ luôn tăng khi bán lại trên thị trường thứ cấp), tâm lý rượt đuổi giá, hiệu ứng đám đông và có thể có cả sự lạc quan thái quá đẩy giá lên cao so với giá trị thực.

Mức giá thị trường cân bằng (Pthị trường) được xác định tại giao điểm của đường Cầu thị trường chung và đường Cung thị trường chung, đại diện cho mức giá phổ biến mà “người mua điển hình” trên thị trường sẵn sàng giao dịch. Giá trị thị trường (market value) không phản ánh mức giá "cực đoan" của 1 cá nhân trả cao nhất trong đấu giá, mà phản ánh mức giá cân bằng của số đông người mua điển hình trên thị trường giao dịch thông thường. Nếu giả định thị trường là hoàn hảo, giá thị trường cân bằng được kỳ vọng phản ánh đúng giá trị thị trường.

Pkhởi điểm được xác định theo nguyên tắc thị trường. Trong mô hình giả định này, giả định rằng nhà nước và đơn vị tư vấn đã ước tính đúng Pkhởi điểm = Pthị trường và không để xảy ra “thất thoát”.

Trong các cuộc đấu giá đất Nhà nước, giá trúng đấu giá thường cao hơn mức giá khởi điểm ban đầu (Ptrúng đấu giá > Pkhởi điểm = Pthị trường) vì các bước giá là số dương, đồng thời tồn tại quan niệm phổ biến của người mua rằng đất nhà nước đấu giá là “hàng F0” giá rẻ, ngay khi bước ra khỏi cửa đã có thể bán sang tay chênh vài giá.

Khi số lượng tài sản đấu giá không nhiều (thường xảy ra trong thực tế), mức giá trúng đấu giá (Ptrúng đấu giá) thường nằm ở đỉnh hoặc gần đỉnh cao nhất của đường cầu, phản ánh mức giá sẵn lòng chi trả (WTP) của người mua cá biệt (particular buyer), không đại diện cho toàn bộ thị trường.

Trong mô hình đơn giản, phần chênh lệch giữa Ptrúng đấu giá và Pthị trường chính là giá trị riêng mà người thắng cuộc chấp nhận trả. Quan hệ của 2 mức giá này là:

Giá trúng đấu giá (Ptrúng đấu giá) = Giá trị chung (Pthị trường) + Giá trị riêng (2)

Hình 1. Trường hợp đấu giá 1 thửa đất



Hình 2. Trường hợp đấu giá nhiều hơn 1 thửa đất

* Chú thích: Hình 1 và Hình 2 được vẽ với giả định giá đất khởi điểm dù được xác định theo phương pháp nào thì vẫn đảm bảo phù hợp với giá trị thị trường theo đúng quy định tại Luật Đất đai. Trong trường hợp giả định này không đúng, chẳng hạn giá khởi điểm xác định thấp hơn (hoặc cao hơn) giá trị thị trường, đường giá khởi điểm sẽ nằm dưới (hoặc trên) đường P thị trường, các hàm ý của đồ thị vẫn không thay đổi.

Như vậy, giá trúng đấu giá bao hàm cả giá trị riêng (private value) – vốn chỉ có ý nghĩa với người mua cụ thể, nên có nét tương đồng với khái niệm “giá trị đặc biệt” trong Thẩm định giá. Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế IVS 104 (phiên bản năm 2013) định nghĩa về “giá trị đặc biệt” như sau: Giá trị đặc biệt là số tiền phản ánh các thuộc tính riêng biệt của tài sản mà chỉ có giá trị đối với một người mua đặc biệt. Các thuộc tính này có thể bao gồm các đặc điểm về mặt vật lý, địa lý, kinh tế hoặc pháp lý của tài sản khiến tài sản này trở nên hấp dẫn hơn đối với một người mua cụ thể so với bất kỳ người mua nào khác trên thị trường. Giá trị đặc biệt cũng được đề cập tương tự trong Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 02 trước đây (Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 của Bộ Tài chính). Mặc dù “giá trị đặc biệt” không còn được đứng như một cơ sở giá trị độc lập kể từ phiên bản IVS năm 2017, nhưng IVS năm 2025 vẫn nhất quán: Khi xác định giá trị thị trường, bắt buộc phải loại bỏ bất kỳ yếu tố, đặc tính nào chỉ có giá trị với một người mua cụ thể - đây chính là phần giá trị riêng trong khung lý thuyết đấu giá.

TIÊU CHUẨN THẨM ĐỊNH GIÁ QUỐC TẾ (IVS 2025)

Theo khoản A10.07 - Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế IVS (có hiệu lực từ 31/01/2025), Giá trị thị trường (market value) không phản ánh các đặc tính của tài sản vốn chỉ có giá trị đối với một chủ sở hữu hoặc một người mua cụ thể, mà những người mua khác trên thị trường không có được. Những lợi thế này có thể liên quan đến các đặc điểm về vật lý, địa lý, kinh tế hoặc pháp lý của tài sản. Việc xác định Giá trị thị trường đòi hỏi phải loại bỏ (không tính đến) bất kỳ yếu tố giá trị nào như vậy; vì tại bất kỳ thời điểm nào, cơ sở giá trị thị trường chỉ giả định sự tồn tại của một người sẵn lòng mua, chứ không phải một người sẵn lòng mua cá biệt (a particular willing buyer).

 Việc tham khảo kết quả trúng đấu giá như một nguồn thông tin thực tế từ thị trường không sai, mà vấn đề nằm ở cách thức xử lý dữ liệu đầu vào. Thực tế hiện nay, giá trúng đấu giá vẫn được ưu tiên sử dụng làm đầu vào so sánh trực tiếp như giá giao dịch thông thường. Người hành nghề hầu hết mới chỉ thực hiện điều chỉnh cho các yếu tố khác biệt về đặc điểm (như vị trí, hướng, lộ giới, mặt tiền,…) giữa tài sản được định giá và tài sản so sánh (TSSS); mà bỏ qua bước điều chỉnh loại bỏ phần “giá trị riêng” đang ẩn trong giá trúng đấu giá. Bỏ quên bước điều chỉnh này có thể gây ra sự “lệch pha” nghiêm trọng về cơ sở giá trị, khiến kết quả ước tính không còn phản ánh giá trị thị trường.

Giới khoa học dữ liệu có câu châm ngôn kinh điển: “Garbage in, garbage out” (GIGO) - dữ liệu đầu vào méo mó thì chắc chắn kết quả đầu ra cũng bị sai lệch. Một mô hình hay công cụ dù có tinh vi hiện đại đến đâu, cũng không thể bù đắp cho tập dữ liệu tồi. Việc nạp các dữ liệu chệch dương mà thiếu khâu làm sạch, sẽ chỉ cho ra kết quả đẹp về hồ sơ nhưng sai về bản chất. Do vậy, nếu không chuẩn hóa khâu xử lý dữ liệu (trong đó có việc bóc tách phần giá trị riêng), thì ngay cả khi bỏ quy định định giá theo nguyên tắc thị trường, dữ liệu đầu vào sai lệch làm biến dạng kết quả tính toán, kéo mặt bằng giá đất lên cao.

---

Mời độc giả đón đọc Kỳ 3: GIẢI MÃ "VÒNG LẶP TĂNG GIÁ" VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH



QUY HOẠCH: HẢI PHÒNG NÊN DỒN LỰC PHÁT TRIỂN NÉN HAY CHIA NHỎ NGUỒN LỰC CHO MÔ HÌNH ĐA CỰC?

QUY HOẠCH: HẢI PHÒNG NÊN DỒN LỰC PHÁT TRIỂN NÉN HAY CHIA NHỎ NGUỒN LỰC CHO MÔ HÌNH ĐA CỰC ? Tác giả: Dương Thành Đạt Sau khi hợp nhấ...