QUY HOẠCH: HẢI PHÒNG NÊN DỒN LỰC PHÁT TRIỂN NÉN HAY CHIA NHỎ NGUỒN LỰC CHO MÔ HÌNH ĐA CỰC ?
Tác giả: Dương Thành Đạt
Sau
khi hợp nhất tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng (theo Nghị quyết
202/2025/QH15), Hải Phòng đứng trước một thời khắc lịch sử để tổ chức lại toàn
bộ không gian phát triển trên diện tích 3.194,72 km² với dân số quy đổi
khoảng 4,66 triệu người. Để định hình khung cấu trúc và phân bổ không
gian phát triển tương xứng với vị thế mới, Dự thảo "Thuyết minh tóm tắt
Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075"
đã đưa ra 03 phương án:
|
|
Lý
do chọn/không chọn |
|
Phương án 1 (Đơn
cực mở rộng): Lấy
khu vực đô thị Hải Phòng hiện hữu làm trung tâm phát triển duy nhất, toàn bộ
hoạt động hành chính, dịch vụ, tài chính tập trung tại đây; Không gian mở rộng
chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dân số và công nghiệp, khu vực Hải
Dương đóng vai trò vùng hậu phương công nghiệp - nông nghiệp . |
·
Cấu
trúc không gian mang tính hướng tâm với một trung tâm duy nhất. Các hoạt động
phát triển tập trung chủ yếu tại khu vực Hải Phòng hiện hữu, dẫn đến nguy cơ
quá tải hạ tầng lõi Hải Phòng cũ (ùn tắc, ngập lụt, ô nhiễm) ·
Không
khai thác được lợi thế rất lớn của không gian Hải Dương sau sáp nhập, làm giảm
hiệu quả sử dụng quỹ đất và hệ thống hạ tầng đã đầu tư. ·
Không
phù hợp với định hướng phát triển đa cực của Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng
và Quy hoạch hệ thống đô thị quốc gia. |
|
Phương án 2 (Hai
trung tâm liên kết):
Hình thành 2 trung tâm (Đông & Tây) tạo sự cân bằng trong phân bố không gian
và khai thác hiệu quả hơn lợi thế của khu vực Hải Dương. |
·
Phương
án vẫn chủ yếu phát triển theo một trục duy nhất. Các khu vực: phía Bắc; ven
biển; Nam Hải Phòng; chưa thực sự trở thành các cực tăng trưởng độc lập. ·
Liên
kết vùng chưa được khai thác đầy đủ. Mô hình TOD và các hành lang kinh tế vẫn
chưa hình thành rõ. |
|
Phương án 3 (Đa
cực – Đa trung tâm theo hệ thống kinh tế vùng: Tổ chức toàn thành phố thành một
hệ thống kinh tế vùng bao gồm 02 trung tâm đô thị lớn (Trung tâm phía
Đông & Trung tâm phía Tây) cách nhau khoảng 45–50km, được ngăn cách bởi một
Dải sinh thái trung tâm (vùng đệm nông nghiệp/sông nước) và kết nối với
nhau bằng các trục đường sắt tốc độ cao, metro, cao tốc và hệ thống đô thị
nén TOD (Transit-Oriented Development) Phát triển hệ thống
đô thị đa cực, đa trung tâm, gồm các trung tâm cấp thành phố, các cực tăng
trưởng, các trung tâm TOD và các khu đô thị chuyên đề. ·
Hai
trung tâm đô thị: Trung tâm phía Tây; Trung tâm phía Đông. ·
Ba
trục động lực: Trục Đông – Tây; Trục Bắc – Nam; Trục ven biển. ·
Ba
trung tâm TOD: TOD Nam Hải Dương; TOD Ninh Xá; TOD Nam Hải Phòng. ·
Các
TOD trở thành động lực phát triển đô thị mật độ cao gắn với giao thông công cộng. ·
Bốn
khu kinh tế: KKT phía Bắc; KKT Đình Vũ – Cát Hải; KKT Nam Hải Phòng; ·
KKT
chuyên biệt phía Tây. ·
Năm
trục cảnh quan: sông Kinh Thầy; sông Bạch Đằng; sông Thái Bình; sông Văn Úc;
sông Cấm. Các hành lang xanh này đồng thời là không gian sinh thái và cấu
trúc cảnh quan chủ đạo của đô thị. |
Ưu điểm: Phương án đáp ứng đồng thời các
mục tiêu phát triển dài hạn của thành phố: phát huy tối đa lợi thế sau sáp nhập;
hình thành cấu trúc đa cực phù hợp với quy mô đô thị mở rộng; tăng cường liên
kết với Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên và vùng Đồng bằng sông Hồng;
khai thác hiệu quả hệ thống cảng biển, logistics và kinh tế biển; phân bố hợp
lý dân cư, việc làm và hạ tầng; giảm áp lực cho khu vực trung tâm hiện hữu;
nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; phù hợp với định hướng phát
triển đô thị biển quốc tế. Hạn chế: Phương án đòi hỏi nguồn lực đầu
tư lớn, yêu cầu triển khai theo lộ trình và cần cơ chế điều phối vùng, quản
trị đô thị hiện đại để bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các cực phát triển.
Tuy nhiên, đây là những yêu cầu tất yếu đối với một đô thị quy mô lớn, có vai
trò cực tăng trưởng quốc gia và trung tâm kinh tế biển quốc tế. |
Dự
thảo đề xuất chọn Phương án 3 (Mô hình Đa cực – Đa trung tâm theo hệ thống
kinh tế vùng) làm cấu trúc không gian chủ đạo. Tuy nhiên thật khó có thể
hình dung về mô hình cùng 1 thành phố mà 2 trung tâm đô thị lõi cách nhau tận
50km trong khi dân số chỉ vỏn vẹn hơn 4 triệu dân như vậy. Ngay cả Phố Đông
(Pudong) và Phố Tây (Puxi) của Siêu đô thị Thượng Hải (quy mô dân số thường trú
đạt khoảng 24,85 triệu người) cũng chỉ ngay hai bên bờ sông Hoàng Phố, cách nhau chỉ khoảng 1 km (trong khi đó trung tâm đô thị Tây Hải Phòng và
Đông Hải Phòng cách nhau khoảng 50km, dân số thường trú chỉ bằng 1/6 Thượng Hải).
Mặc dù diện tích hơn 6.300 km2 (gấp đôi Hải Phòng sau sáp nhập) nhưng
Thượng Hải phát triển mở rộng theo dạng đô thị ven sông (river-crossing city
expansion), nối nhau bằng hàng loạt cầu, hầm chui và tuyến metro dày đặc. Dân số
tập trung với mật độ rất cao xung quanh hai bên bờ sông Hoàng Phố (khu vực Phố
Tây truyền thống và Phố Đông phát triển mới).
Trong
thuyết minh đồ án Quy hoạch chung của Hải Phòng có tiếp thu, tham khảo kinh
nghiệm quốc tế theo mô hình Seoul-Incheon và Tokyo – Yokohama.
|
|
|
Bài học
cho Hải Phòng |
|
Seoul – Incheon,
Hàn Quốc Khoảng cách: khoảng 30–35 km. |
Mô hình đô thị đa cực,
Seoul giữ vai trò trung tâm điều hành – dịch vụ, Incheon là cửa
ngõ quốc tế về cảng biển, hàng không và logistics, khu kinh tế tự do. Hệ thống đường sắt,
đường cao tốc và giao thông công cộng tạo liên kết chặt chẽ giữa các cực đô
thị; khu kinh tế tự do Incheon hình thành trung tâm logistics, tài chính,
công nghệ và dịch vụ quốc tế. |
Tổ chức cấu trúc đa
cực với phân công chức năng rõ ràng; tăng liên kết giữa các trung tâm bằng
giao thông khối lượng lớn; gắn cảng biển, sân bay, logistics với các cực công
nghiệp – dịch vụ và nâng cao vai trò cửa ngõ quốc tế |
|
Tokyo –
Yokohama, Nhật Bản Khoảng cách: khoảng 30 km. |
Mô hình đô thị đa
trung tâm gắn với đường sắt và giao thông công cộng, đồng thời tái thiết các
khu cảng, công nghiệp cũ thành các khu đô thị hỗn hợp, dịch vụ và không gian
công cộng ven biển. Các trung tâm có chức năng riêng nhưng liên kết thành một
hệ thống đô thị thống nhất. → Tokyo là
trung tâm kinh tế – hành chính; Yokohama là đô thị cảng biển công nghiệp
– du lịch. Cả hai kết nối thành vùng đô thị đa trung tâm thông qua mạng lưới
đường sắt đô thị và tàu điện dày đặ |
Phát triển đa trung
tâm; tái thiết khu vực cảng – công nghiệp cũ; khai thác không gian ven sông,
ven biển; gắn phát triển đô thị với đường sắt, TOD và bảo tồn bản sắc, cảnh
quan |
Suy
nghĩ về vấn đề này, tôi có 4 ý kiến phản biện dưới đây:
1.
SỰ KHIÊN CƯỠNG VỀ MẶT LÝ LUẬN KHI ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH QUỐC TẾ (SEOUL-INCHEON, TOKYO-YOKOHAMA)
Dự
thảo báo cáo quy hoạch viện dẫn mô hình đô thị cảng vùng của Seoul – Incheon
(Hàn Quốc) hay Tokyo – Yokohama (Nhật Bản) để làm cơ sở cho Phương
án 3. Tuy nhiên, việc áp dụng này có phần khiên cưỡng về mặt lịch sử phát triển
kinh tế:
- Bản
chất phát triển đơn cực tích tụ trước khi lan tỏa: Tokyo và Seoul là 2 thủ đô của
quốc gia tư bản phát triển. Cả Tokyo và Seoul đều trải qua hàng thập kỷ
phát triển đô thị theo mô hình đơn cực tích tụ (monocentric
aggregation). Nhật Bản và Hàn Quốc đã dồn toàn bộ nguồn lực quốc gia để tạo
nên một siêu đại đô thị lõi hàng chục triệu dân, đạt đến "khối lượng
tới hạn" (critical mass) về mật độ kinh tế, tầng lớp trung lưu và thị
trường tiêu dùng sầm uất. Chỉ khi đô thị lõi phát triển quá tải, họ mới bước
sang giai đoạn 2 là lan tỏa đa cực sang Incheon hay Yokohama. Giai đoạn
phát triển này mới là sự kết nối giữa 1 trung tâm đô thị lớn, thị trường rộng
lớn có sẵn với 1 khu vực đô thị mới. Chứ ko phải là phát triển đa cực từ đầu
trên cơ sở 2 thành phố đều bình bình như nhau, dân cư dàn trải, nguồn lực
mỏng.
- Hải
Phòng chưa đủ mật độ dân cư của một đại đô thị: Hải Phòng không phải thủ đô,
không có lợi thế quy tụ dân cư cũng như nguồn lực tài chính toàn quốc như
các thủ đô. Dân số đô thị Hải Phòng hiện mới chỉ hơn 2 triệu người (và
tương đương với tỉnh Hải Dương cũ).
- Bài
học Thâm Quyến và Thượng Hải:
Trung Quốc tạo bứt phá không phải bằng cách chia nhỏ nguồn lực ngay từ đầu.
Họ dồn toàn bộ dòng vốn cho Thâm Quyến hay Thượng Hải phát triển rực rỡ,
trở thành siêu đô thị có sức hút mãnh liệt, rồi từ đỉnh cao thành công đó
mới quay lại lan tỏa và gánh vác các vùng xung quanh. Hiểu đơn giản là giống
như một gia đình nghèo đông con, dồn hết tiền cho 1 đứa con tiềm năng nhất
đi học Đại học, học giỏi bứt phá hẳn để thành công. Rồi khi thành công, đứa
con đó quay lại giúp đỡ, phát triển cuộc sống cho những đứa con khác. Nếu
chỉ có 1 chút xíu tiền, chia đều cho tất cả các con rồi chẳng đứa nào bứt
phá được với chút tiền còm đó.
Do vậy việc chia nguồn lực và dân số
dàn mỏng cho hai trung tâm cách nhau 50km ngay từ đầu giống như "một cọc
tiền nhỏ chia làm hai túi", không đủ đến khiến một trung tâm nào có thể bứt
phá.
2. PHÂN MẢNH TRONG ĐA CỰC VÀ NGUY CƠ BIẾN CÁC TOD, ĐÔ THỊ VỆ
TINH THÀNH CÁI TÊN MỚI, NHƯNG BẢN CHẤT CHỈ LÀ "THỊ TRẤN, THỊ XÃ"
Phương
án 3 kỳ vọng hệ thống đường sắt tốc độ cao hay Metro M5 sẽ kết nối các "Hạt
nhân TOD" hay "Trung tâm đô thị mới" (như TOD Nam Hải Dương, TOD
Tứ Kỳ, TOD Ninh Xá...) thành một cấu trúc liên kết sầm uất. Tuy nhiên, việc
"thay tên đổi họ" trên bản đồ quy hoạch không làm thay đổi được bản
chất vận hành kinh tế nếu thiếu đi sự dồn tụ dân cư:
- Giao
thông nhanh không tạo ra thị trường tiêu dùng tại chỗ: Việc đi tàu nhanh hơn giúp
người dân di chuyển dễ dàng hơn, nhưng không thể biến hai vùng địa lý
cách nhau 50km thành một thị trường tiêu dùng thống nhất. Người dân
không thể đi tàu hỏa 50km từ Hải Dương sang Hải Phòng chỉ để mua sắm món đồ
sinh hoạt rồi đi về nhà trong ngày.
- Thiếu
mật độ nén để tạo ra trung tâm thương mại đúng nghĩa: Một mô hình TOD hay trung tâm
đô thị đa cực chuẩn quốc tế đòi hỏi mật độ dân cư cực kỳ lớn ngay tại chỗ
(bán kính 500m–1km) để nuôi sống các tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại
cao tầng và dịch vụ tài chính. Khi dân số bị chia mỏng ra nhiều cực, dịch
vụ cao cấp hoàn toàn không có lực cầu để tồn tại.
- Nguy
cơ thoái hóa về mô hình "thị trấn, thị xã" kiểu cũ: Khi thiếu vắng tầng lớp tiêu
dùng quy mô lớn, các "trung tâm đa cực" vẽ trên bản đồ sẽ tự động
co cụm về đúng hình thái phát triển quen thuộc: chợ dân sinh, quán ăn nhỏ,
cửa hàng tạp hóa, dịch vụ sửa chữa lẻ... Đây chính là cấu trúc của các
thị trấn, thị xã cấp huyện kiểu cũ đã tồn tại hàng chục năm qua — nơi
ban ngày thưa thớt, ban đêm đìu hiu và vắng bóng hoàn toàn không khí hoạt
động kinh tế sầm uất.
- Tránh
hiện tượng đô thị hóa "trên giấy": Báo cáo thừa nhận nhiều khu vực
đã lên phường, lên đô thị trên giấy nhưng thực tế vẫn mang cấu trúc làng
xã, thiếu vắng người ở. Nếu tiếp tục mở rộng ra xa khi vùng lõi chưa lấp đầy,
thành phố sẽ lặp lại hiện tượng đô thị hóa vỏ bọc.
- Hệ
quả bất động sản phân lô bỏ hoang: Nhìn vào thực tế các "khu đô thị mới" ở
cấp huyện hiện nay, khi chủ đầu tư vẽ ra phân khu thương mại hoành tráng
nhưng không có dân về ở, tất cả nhanh chóng biến thành những dãy nhà phố
đìu hiu, phân lô bán nền để đầu cơ. Việc chia nhỏ thành nhiều cực vệ tinh
khi dân số chưa đủ đông sẽ lặp lại chính vết xe đổ này trên quy mô toàn
thành phố.
3.
QUỸ ĐẤT VÙNG LÕI HIỆN HỮU CÒN NHIỀU VÀ SỰ LỆCH PHA TRONG ĐỊNH HƯỚNG CỤM
NGÀNH
Đồ
án cho rằng cần đẩy bớt chức năng ra phía Tây để tránh quá tải lõi Hải Phòng
cũ. Nhưng số liệu thực tế trong báo cáo lại chỉ ra điều ngược lại:
- Dư
địa đất vùng lõi Hải Phòng cũ còn rất nhiều nếu chỉ phục vụ dân sinh, dân cư: Đất nông nghiệp hiện vẫn chiếm
tới 56,99% toàn thành phố, trong khi đất ở đô thị mới chỉ chiếm 3,68%.
Ngay trong lòng nội đô Hải Phòng cũ, đất ruộng, đất vườn, đất xen kẹt, các
đô thị mới được xây dựng còn rất lớn và vắng người ở. Vùng lõi Hải Phòng
hoàn toàn có đủ sức chứa để quy hoạch nén, cải tạo và hấp thụ thêm hàng
triệu dân mà không cần phải vội vã dàn trận ra xa ngay từ đầu.
- Chưa
bám sát thực trạng phân bố cụm ngành: Đồ án định hướng Trung tâm phía Tây (Hải Dương)
đảm nhận vai trò công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Thế nhưng
thực tế, hầu hết các tập đoàn công nghệ cao, điện tử và FDI lớn nhất (LG tại
Tràng Duệ, Pegatron, DEEP C, VSIP) đều đang hội tụ tại Hải Phòng cũ. Hải
Dương thực chất đóng vai trò là hậu phương công nghiệp chế tạo, lắp ráp và
cung cấp lao động. Bên cạnh đó, báo cáo cũng đưa ra định hướng phát triển
Hải Dương phát triển thành trung tâm giáo dục-y tế. Trong gia đình, việc đầu
tư dồn tiền cho đứa con nào đi học đều phải dựa trên năng lực thực sự, đứa
con đó có học được ko, có tối ưu được số tiền đầu tư đó không.
Vì vậy cần xem xét thực tế là Hải
Dương không có năng lực cạnh tranh về y tế và giáo dục. Lượng sinh viên và trường
Đại học chất lượng gắn với các viện nghiên cứu vùng, thị trường việc làm vẫn nằm
ở Hải Phòng cũ. Bệnh viên chất lượng, bác sĩ chất lượng ở Hải Phòng cũ và chỉ
có người Hải Dương cũ đến Hải Phòng khám chữa bệnh, chứ không phải chiều ngược
lại. Vậy cơ sở nào để biến thành trung tâm y tế, giáo dục, công nghệ cao của Hải
Phòng khi vốn dĩ lợi thế cạnh tranh này đang nằm tại Hải Phòng cũ.
Đừng nhầm lẫn giữa Trung tâm và cơ
sở 2. Cơ sở 2 của Trung tâm thì không phải là trung tâm (center). Thiết nghĩ cần
đánh giá đúng năng lực cạnh tranh và lợi thế của Hải Dương để phát huy thực sự
những tiềm năng này, thay vì cố nhặt ra những keyword mỹ miều.

4.
RỦI RO THỰC THI TỪ BẪY KỲ VỌNG VÀO HẠ TẦNG GIAO THÔNG KẾT NỐI
Toàn
bộ sự thành bại của Phương án 3 được đặt lên vai hệ thống giao thông kết nối tốc
độ cao (Đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, đường sắt vùng M5, các tuyến
Metro).
- Kịch
bản khi hạ tầng chậm tiến độ:
Thực tế phát triển hạ tầng đường sắt đô thị và liên vùng thường mất rất
nhiều thời gian. Nếu các tuyến đường sắt nối Đông – Tây bị chậm tiến độ
10–15 năm, khoảng cách 50km di chuyển bằng đường bộ ùn tắc sẽ biến Phương
án 3 thành một thảm họa phân tán. Hai khu vực sẽ bị chia cắt về địa lý, từ
đó dẫn tới các hệ quả về mặt kinh tế, khiến các vùng đô thị mới có thể rơi
vào trạng thái vắng bóng người ở.
LỜI
KẾT & ĐỀ XUẤT:
Để
Hải Phòng thực sự trở thành một cực tăng trưởng bứt phá của cả nước, thiết nghĩ
thành phố nên cân nhắc điều chỉnh tiến độ phát triển theo lộ trình thực tế hơn:
- Giai
đoạn 2026–2050 (Tập trung vùng lõi): Tạm dừng việc phân tán nguồn lực ra các cực mới ở
xa. Tập trung toàn bộ nguồn lực ngân sách để dồn nén, tái thiết và phát
triển rực rỡ Vùng lõi Hải Phòng hiện hữu. Hãy biến Hải Phòng cũ thành
một "Đại đô thị cảng biển nén", phủ kín các quỹ đất xen kẹt, tái
thiết dải sông Cấm và nâng mật độ kinh tế lên mức tối đa để tạo ra một thị
trường nội địa thực sự sầm uất.
- Quy
hoạch Hải Dương đúng thế mạnh hậu phương: Phát triển Hải Dương thành
Trung tâm công nghiệp hỗ trợ, Cảng cạn (ICD), Trung tâm phân phối
logistics nội địa và Vùng nông nghiệp công nghệ cao cung cấp cho toàn
vùng.
- Chỉ
phát triển Đa cực khi Lõi đạt ngưỡng tới hạn (giai đoạn từ năm 2050-2075): Khi vùng lõi Hải Phòng cũ đạt
quy mô dân số đô thị nén lớn, hạ tầng lõi xuất hiện dấu hiệu quá tải thực
sự và các tuyến đường sắt kết nối Đông – Tây đã hoàn thành, thành phố mới
tiến hành lan tỏa phát triển sang các cực vệ tinh.
Một
thành phố mạnh không phải là thành phố vẽ ra nhiều trung tâm trên bản đồ, mà là
thành phố biết tập trung nguồn lực để tạo ra một thị trường có sức hút mãnh liệt.
Hải Phòng cần dồn lực để nuôi dưỡng vùng lõi thành một đại đô thị bứt phá
vượt trội, khác biệt với các TPTTTW khác, từ đó mới có thể lan tỏa, phát huy vai trò đầu tầu kéo toàn
bộ kinh tế vùng đi lên.